Facebook Linkedin Mail Spotify Website
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Search
  • Giới thiệu
  • Cảm ơn
  • Bản quyền
  • Liên hệ
  • Podcast
Sign in
Welcome! Log into your account
Forgot your password? Get help
Password recovery
Recover your password
A password will be e-mailed to you.
ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Home Thư viện Page 23

Thư viện

Most popular
  • Latest
  • Featured posts
  • Most popular
  • 7 days popular
  • By review score
  • Random

Giới thiệu rừng nhiệt đới Amazon

Vườn quốc gia U Minh Thượng – khu rừng độc đáo, quý hiếm trên thế giới

Vườn quốc gia Tràm Chim phát triển du lịch theo hướng bền vững

VQG Hoàng Liên Sơn – trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất Việt Nam

Đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Sơn

Phê duyệt quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL

Bảo vệ rừng cần có sự tham gia của người dân...

Thực hiện định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp...

Vườn quốc gia Tràm Chim hướng tới hình thành khu Ramsar

Bảo vệ giá trị sinh thái và cảnh quan Vườn quốc...

Bộ TN&MT hướng dẫn cụ thể về việc bồi thường, hỗ...

Lồng ghép giới trong ngành công nghiệp khai thác

Nghiên cứu đề xuất “minh bạch dự án du lịch có...

Hé lộ nhiều bí mật mới cần khám phá ở hang...

Thành lập Hạt kiểm lâm Khu BTTN Núi Ông

1...222324...97Page 23 of 97
Rừng Xanh Lên

Nghe Podcast

Mới cập nhật

  • Thúc đẩy vai trò Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học
  • Bảo tồn đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc
  • Cơ chế thí điểm OECM: Chờ đợi thêm bao lâu?
  • Bão số 10 gây thiệt hại nặng nề và nỗi đau mất mát
  • Bão số 10 gây thiệt hại rất nghiêm trọng khiến 19 người chết, 13 người mất tích

Trên Facebook

ThienNhien.Net

9 giờ trước

ThienNhien.Net
Khi thiên nhiên trở thành một nhãn dán đẹpBạn có để ý thấy những điều này không: chỉ cần dự án có thêm vài mảng xanh, vài hàng cây, một hồ nước nhân tạo, hay một cam kết hấp thụ carbon, lập tức nó có thể được gọi bằng những cái tên rất đẹp như “giải pháp dựa vào thiên nhiên”. Nghe rất ổn. Nhưng trong không ít trường hợp, thứ thay đổi nhiều nhất lại không phải là bản chất của dự án, mà là ngôn ngữ dùng để mô tả nó.Đây chính là lý do ngày càng nhiều nhà nghiên cứu cảnh báo về nguy cơ tẩy xanh trong câu chuyện NbS. Một số nghiên cứu về bất động sản đô thị cho thấy nhiều dự án quảng bá “không gian xanh”, “sống gần thiên nhiên”, “hạ tầng sinh thái” như một lợi thế bán hàng, nhưng khi nhìn kỹ thì phần xanh chỉ mang tính trang trí, bị chia cắt, khó tiếp cận, hoặc không đủ giá trị sinh thái. Nói cách khác, có những nơi thiên nhiên được đưa vào tờ quảng cáo trước khi được cho vào thiết kế thật.Vấn đề không chỉ nằm ở chuyện quảng cáo. Nguy hiểm hơn là khi NbS bị dùng như một lớp phủ đạo đức cho những hoạt động vốn vẫn gây áp lực lên khí hậu và đa dạng sinh học. Một doanh nghiệp có thể tài trợ trồng rừng ở đâu đó, nhưng đồng thời vẫn duy trì mô hình sản xuất gây ô nhiễm, phá vỡ sinh cảnh, hoặc phát thải lớn mà không có thay đổi đáng kể ở phần cốt lõi. Một dự án có thể gắn mác “dựa vào thiên nhiên”, nhưng lại bỏ qua cộng đồng địa phương, làm nghèo hệ sinh thái bằng các mô hình trồng cây thuần loài, hoặc lấy vài chỉ số xanh để che lấp các tổn thất lớn hơn ở nơi khác. Khi đó, NbS không còn là giải pháp, mà trở thành một tấm bảng hiệu đẹp đặt trước cửa.Một lý do khiến chuyện này dễ xảy ra là vì khái niệm NbS đủ rộng để ai cũng có thể nhận vơ một phần. Nếu không có tiêu chí rõ ràng, rất nhiều thứ có thể bị kéo vào chiếc ô này: từ công viên cảnh quan, hồ điều hòa, khu đô thị trồng cây, cho đến các chương trình bù trừ carbon . Nhưng khoa học về NbS vốn không nói đơn giản như vậy. Một NbS nghiêm túc không chỉ cần có yếu tố thiên nhiên, mà phải chứng minh được rằng nó giải quyết được một vấn đề xã hội cụ thể, đồng thời không làm tổn hại đa dạng sinh học, có tính bền vững dài hạn, và không phải là cái cớ để trì hoãn những thay đổi gốc rễ hơn như giảm phát thải, giảm ô nhiễm hay thay đổi quy hoạch sai lầm.Vì thế, khi nghe một dự án tự giới thiệu là “giải pháp dựa vào thiên nhiên”, có lẽ điều cần làm không phải là vội tin, cũng không phải là vội bác bỏ. Điều cần làm là hỏi vài câu rất đơn giản: Thiên nhiên ở đây là thật hay chỉ để trưng bày? Hệ sinh thái được cải thiện thật hay chỉ đẹp trên hình? Cộng đồng được hưởng lợi thật hay chỉ đứng ngoài? Và quan trọng nhất: dự án này có giải quyết vấn đề gốc rễ, hay chỉ đang làm cho vấn đề trông dễ chịu hơn? Nếu không trả lời được những câu hỏi ấy, thì nhiều khả năng “thiên nhiên” chỉ đang bị dùng như một nhãn dán đẹp mà thôi.#giaiphapduavaothiennhien #NbS #phattrienbenvung #baotonthiennhien #phuchoisinhthai #khihau #dadangsinhhoc ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

1 ngày trước

ThienNhien.Net
NbS có thật sự mới, hay chỉ là cách đóng gói lại tri thức cũ?Cụm từ “giải pháp dựa vào thiên nhiên” (NbS) dễ tạo ra cảm giác đây là một phát kiến mới của thời đại khí hậu. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, rất nhiều điều đang được gọi là NbS hôm nay thực ra không hề xa lạ. Từ việc giữ rừng đầu nguồn để giảm lũ, duy trì đất ngập nước để điều tiết nước, làm nông lâm kết hợp để giữ đất và tăng độ phì, đến phục hồi rừng ngập mặn để bảo vệ bờ biển - nhiều cộng đồng địa phương đã thực hành những cách này từ rất lâu, thậm chí từ nhiều thế hệ trước khi các tổ chức quốc tế bắt đầu chuẩn hóa thành một thuật ngữ toàn cầu.Vì vậy, nói rằng NbS là một ý tưởng hoàn toàn mới thì không thật chính xác. Nhiều nhà nghiên cứu xem NbS là một khái niệm tổng quát, gom lại những hướng tiếp cận vốn đã tồn tại trong bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, thích ứng dựa vào hệ sinh thái, hạ tầng xanh hay quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng. Điểm đáng chú ý là khi được đặt trong một chiếc khung mới, những thực hành cũ bỗng có một ngôn ngữ dễ bước vào các bàn thảo luận lớn hơn: từ chính sách khí hậu, quy hoạch đô thị cho đến tài chính xanh. Điều mới mẻ không hẳn nằm ở bản thân giải pháp, mà nằm ở cách hệ thống hiện đại nhìn nhận, đo đếm và hợp thức hóa nó.Nhưng chính ở đây cũng nảy sinh một câu hỏi khó chịu mà rất cần được đặt ra: ai là người được quyền đặt tên cho tri thức? Nhiều thực hành mà thế giới hôm nay ca ngợi dưới nhãn NbS thực chất là kết quả của hàng trăm năm quan sát, thử nghiệm và điều chỉnh của cộng đồng bản địa, người dân địa phương và những người sống gắn với đất, rừng, sông, biển. Trong nhiều trường hợp, khi một cách làm được “dịch” sang ngôn ngữ quốc tế, nó trở nên sang trọng hơn, dễ được tài trợ hơn, dễ được đưa vào báo cáo hơn. Thế nhưng những cộng đồng đã gìn giữ và phát triển nó lại không phải lúc nào cũng được ghi nhận xứng đáng. Đó là lý do ngày càng nhiều tài liệu quốc tế nhấn mạnh rằng NbS không nên chỉ là câu chuyện của kỹ thuật hay tài chính, mà còn là câu chuyện của quyền, tiếng nói và sự công bằng tri thức.Bên cạnh đó, tri thức bản địa hay tri thức địa phương không nên bị nhìn như một thứ “đồ gia truyền” chỉ để kể cho hay. Nhiều nghiên cứu gần đây nhấn mạnh rằng các hệ tri thức này không chỉ là ký ức văn hóa, mà là những hệ thống hiểu biết sinh thái được tích lũy qua quan sát dài hạn, qua quá trình thử – sai – điều chỉnh trong chính điều kiện địa phương. Hay nói cách khác, có những điều người dân bản địa biết về nước, về đất, về mùa, về cây, về lửa, về dòng chảy, đôi khi còn sâu hơn cả những mô hình chuẩn hóa từ bên ngoài. Nếu NbS thực sự nghiêm túc, nó phải coi những tri thức ấy là nền tảng để đồng kiến tạo giải pháp, chứ không phải chỉ tham vấn hình thức.Vì vậy, nếu phải trả lời thật ngắn gọn, thì có lẽ câu trả lời là thế này: NbS vừa cũ, vừa mới. Cũ ở chỗ nhiều thực hành đứng sau nó đã có từ lâu. Mới ở chỗ thế giới hôm nay đang cố gắng gom chúng lại trong một khung khái niệm chung, để nói chuyện với các hệ thống chính sách và đầu tư hiện đại. Nhưng cũng chính vì thế, NbS chỉ đáng tin khi nó không xóa mờ nguồn gốc của tri thức, không biến những thực hành cộng đồng thành sáng kiến mới của ai đó, và không dùng ngôn ngữ mới để che lấp những bất bình đẳng cũ. Một giải pháp không thể gọi là “dựa vào thiên nhiên” nếu nó tách rời khỏi những con người đã sống cùng thiên nhiên ấy từ ngàn xưa.#giaiphapduavaothiennhien #NbS #phattrienbenvung #baotonthiennhien #phuchoisinhthai #khihau #dadangsinhhoc ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

2 ngày trước

ThienNhien.Net
NbS: Khái niệm mới hay cách gọi mới cho điều cũ?“Giải pháp dựa vào thiên nhiên” (nature-based solutions – NbS) gần đây xuất hiện dày đặc trong các diễn đàn về khí hậu, đa dạng sinh học, phát triển bền vững, thậm chí cả trong các dự án đầu tư và tài chính xanh. Nghe qua đây có vẻ như một ý tưởng rất mới: thay vì chỉ dựa vào công trình bê tông hay công nghệ đắt đỏ, con người học cách dựa vào hệ sinh thái để giảm lũ, giữ nước, làm mát đô thị, phục hồi đất đai, bảo vệ sinh kế và tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, một câu hỏi khá thú vị xuất hiện: liệu NbS có thực sự là một phát minh mới, hay chỉ là một cái tên mới cho những điều mà nhiều cộng đồng, nhà khoa học và những người làm bảo tồn đã theo đuổi từ lâu?Nếu bám theo định nghĩa phổ biến của IUCN, NbS là những hành động nhằm bảo vệ, quản lý bền vững hoặc phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên hay đã bị biến đổi, đồng thời giải quyết các thách thức xã hội như biến đổi khí hậu, an ninh nước, giảm rủi ro thiên tai hay sức khỏe con người, trong khi vẫn mang lại lợi ích cho đa dạng sinh học và phúc lợi xã hội. Nghe rất hiện đại, nhưng bản chất của nó lại không hoàn toàn xa lạ. Giữ rừng đầu nguồn để giảm xói mòn và điều tiết nước, phục hồi rừng ngập mặn để chắn sóng và bảo vệ bờ biển, canh tác nông lâm kết hợp để giữ đất và tăng độ phì, hay bảo tồn đất ngập nước để giảm ngập và lọc nước - tất cả những việc đó đã tồn tại từ rất lâu, trước cả khi thuật ngữ NbS trở nên thịnh hành trong các báo cáo quốc tế.Cái mới của NbS không hẳn nằm ở việc làm, mà nhiều khi nằm ở cách gọi tên và cách đóng khung khái niệm. Trước khi NbS trở thành từ khóa toàn cầu, thế giới đã có nhiều khái niệm gần gũi như phục hồi hệ sinh thái, thích ứng dựa vào hệ sinh thái (ecosystem-based adaptation), giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào hệ sinh thái, hạ tầng xanh, hay rộng hơn là dịch vụ hệ sinh thái. Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận NbS thực chất là một khái niệm tổng quát, gom lại nhiều hướng tiếp cận vốn đã tồn tại rải rác trong bảo tồn, quản lý tài nguyên và quy hoạch phát triển. Vì vậy, nếu ai đó nói NbS là hoàn toàn mới, có lẽ họ đang nói hơi quá.Tuy vậy, gọi NbS là “bình mới rượu cũ” rồi gạt đi hoàn toàn cũng là một cách nhìn quá đơn giản. Việc một khái niệm cũ được đóng gói mới lại không nhất thiết là điều xấu. Trong nhiều trường hợp, chính nhờ có một ngôn ngữ mới, các ý tưởng vốn nằm rải rác trong giới bảo tồn mới bước vào được những cuộc thảo luận lớn hơn về khí hậu, đầu tư công, quy hoạch đô thị hay tài chính phát triển. Nói cho cùng, bảo tồn thiên nhiên nhiều khi bị xem là chuyện của riêng ngành môi trường; còn NbS lại được hiểu như một giải pháp phát triển, có thể nói chuyện với cả giới quy hoạch, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách. Đó là lý do NbS bùng nổ nhanh. Không chỉ vì nó đúng, mà còn vì nó nói được bằng thứ ngôn ngữ mà nhiều hệ thống quyền lực hiện nay sẵn sàng lắng nghe.Vì thế câu hỏi quan trọng nhất đối với chúng ta không nên là “NbS có mới hay không?”, mà là "NbS có giúp chúng ta làm tốt hơn những điều đúng đắn hay không"? Nếu NbS chỉ là lớp sơn mới cho những dự án cũ, hoặc tệ hơn là một nhãn dán đẹp để hợp thức hóa các hoạt động nửa vời, thì nó không có nhiều giá trị. Nhưng nếu NbS giúp kết nối bảo tồn với thích ứng khí hậu, gắn phục hồi hệ sinh thái với sinh kế cộng đồng, và buộc các dự án phải chứng minh cả lợi ích xã hội lẫn lợi ích sinh thái, thì đây không chỉ là chuyện đổi tên, gán nhãn. Loạt bài trong này sẽ đi tiếp từ chính điểm đó: khi nào NbS là một bước tiến thật sự, và khi nào nó chỉ là một lớp ngôn ngữ thời thượng phủ lên những thứ cũ kỹ?Mời các bạn tiếp tục đón đọc, thảo luận và chia sẻ rộng rãi nhé.#giaiphapduavaothiennhien #NbS #phattrienbenvung #baotonthiennhien #phuchoisinhthai #khihau #dadangsinhhoc ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

3 ngày trước

ThienNhien.Net
Bất chấp chênh lệch lớn về kích thước cơ thể, một con quạ vẫn dũng cảm lao vào tấn công con kền kền đang đậu. Một khoảnh khắc phản kháng rất mạnh mẽ và hoang dã.Kền kền Griffon bị quạ quấy nhiễu. Tác phẩm vào chung kết hạng mục Chim của The Nature Photography Contest 2025. Ảnh của: Panagiotis Xaxiris. ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

4 ngày trước

ThienNhien.Net
Cứu một loài, phải cứu cả khu rừngTuần này, khép lại loạt bài về những mô hình bảo tồn thiên nhiên và phục hồi sinh thái ở Trung Quốc, có lẽ không có ví dụ nào đắt hơn câu chuyện ở Hải Nam. Ở đây, bài học không chỉ là trồng thêm rừng hay mở rộng diện tích bảo vệ. Bài học lớn hơn nằm ở chỗ, muốn cứu một loài đang ở sát bờ tuyệt chủng, phải phục hồi cả hệ sinh thái mà loài đó phụ thuộc vào.Vườn quốc gia rừng mưa nhiệt đới Hải Nam nằm ở phía nam Trung Quốc, với diện tích khoảng 426.900 hecta. Đây là một trong những khu rừng mưa nhiệt đới liền vùng quan trọng nhất của nước này, đồng thời là nơi cuối cùng còn loài Vượn Hải Nam (Nomascus hainanus). Đây loài linh trưởng đặc hữu cực kỳ nguy cấp và thường được xem là một trong những loài linh trưởng quý hiếm nhất thế giới. Quy mô của khu rừng này không chỉ đáng chú ý ở mặt diện tích mà còn ở giá trị sinh học rất cao, với hàng nghìn loài thực vật và hàng trăm loài động vật có xương sống được ghi nhận.Trong nhiều năm, số lượng Vượn Hải Nam từng giảm xuống mức báo động. Gần đây, các số liệu công bố cho thấy quần thể đã tăng từ khoảng 35 cá thể lên 42 cá thể, phân bố thành 7 nhóm gia đình. Với một loài mà tổng số cá thể ngoài tự nhiên chỉ còn ở mức vài chục con, mức tăng này chưa đủ để nói đến sự phục hồi vững chắc. Nhưng nó vẫn là một tín hiệu quan trọng. Ít nhất, con số đó cho thấy quần thể này không ở xu hướng suy giảm, và những nỗ lực bảo vệ sinh cảnh trong thời gian qua có thể đang tạo ra kết quả bước đầu.Đằng sau con số đó là một cách làm tương đối nhất quán. Chính quyền Hải Nam không chỉ giữ rừng theo nghĩa hành chính mà tổ chức lại việc quản lý ở quy mô lớn hơn, phối hợp nhiều cơ quan cùng tham gia giám sát và bảo vệ. Họ tăng cường tuần tra, sử dụng ảnh viễn thám, máy bay không người lá và camera hồng ngoại để theo dõi diễn biến rừng và động vật hoang dã. Ở những khu vực bị suy thoái, cây bản địa được trồng phục hồi; những diện tích rừng trồng thuần loài trước đây cũng được chuyển dần theo hướng tái sinh tự nhiên và phục hồi cấu trúc rừng mưa nhiệt đới.Một trong những chi tiết đáng suy ngẫm nhất là việc 63 công trình thủy điện nhỏ trong khu vực đã được tháo dỡ. Đây không phải là một quyết định dễ dàng vì nó đụng chạm đến hạ tầng đã tồn tại và những lợi ích đã hình thành từ trước. Nhưng nếu giữ nguyên những công trình tiếp tục làm chia cắt dòng chảy và làm suy yếu chức năng sinh thái của rừng thì rất khó nói đến phục hồi thực chất. Bài học ở đây là phục hồi sinh thái không chỉ đơn thuần trồng thêm cây mà nhiều khi cần chấp nhận bỏ đi những gì đang làm tổn thương hệ sinh thái.Việt Nam cũng có nhiều khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn và sinh cảnh của các loài nguy cấp đang ở trong tình trạng tương tự: diện tích còn đó nhưng bị chia cắt, chất lượng sinh cảnh suy giảm, áp lực từ cơ sở hạ tầng như thủy điện và khai thác khoáng sản vẫn kéo dài. Trong những bối cảnh như vậy, bảo tồn loài không thể tách rời khỏi phục hồi hệ sinh thái. Muốn giữ được một quần thể nhỏ và mong manh, phải giữ được rừng đủ liền vùng, đủ yên tĩnh và hệ sinh thái tự niên đủ khả năng tự vận hành.Câu chuyện Hải Nam vì thế không chỉ là chuyện của một loài vượn quý hiếm. Nó cho thấy bảo tồn hiệu quả không bắt đầu từ những khẩu hiệu lớn, mà từ những quyết định quản lý cụ thể, kiên trì, và dũng cảm. Khi sinh cảnh được nối lại, áp lực được giảm bớt và các yếu tố gây suy thoái được xử lý đến nơi đến chốn, thiên nhiên mới có cơ hội tự phục hồi. Với những loài bên bờ tuyệt chủng như Vượn Hải Nam, đó có thể là khác biệt giữa nguy cơ biến mất vĩnh viễn và còn một cơ hội để tồn tại.Ảnh của Xinhua, China.org, KFBG.#BaoTonThienNhien #PhucHoiSinhThai #vuonquocgia #rungmuanhietdoi #loainguycap #vuonhainam #sinhcanh #trungquoc ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

Trên YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=hXH3ulZGzSo

Chủ đề nổi bật

BBĐVHD biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu BĐKH bảo vệ môi trường Bảo vệ rừng bệnh truyền nhiễm cháy rừng corona Covid-19 cơ hội việc làm Dịch bệnh Hà Nội Hạn hán Hổ Khai thác khoáng sản khoáng sản khu công nghiệp lũ lụt Mê Kông Mưa bão Mưa lũ Mỹ Nghệ An ngà voi phá rừng plastic Quảng Nam rác thải nhựa SARS-CoV-2 sạt lở thiên tai Thủy điện Trung Quốc Trung Quốc vaccine xả thải Ô nhiễm không khí Ô nhiễm môi trường ô nhiễm ĐBSCL ĐVHD đa dạng sinh học đại dịch động vật hoang dã
Giấy phép số 243/GP-TTĐT do Cục PT, TH và TTĐT cấp ngày 11/10/2024
Trụ sở: NV31, Khu đô thị Trung Văn, p. Trung Văn, q. Nam Từ Liêm, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 Fax: 024 3556-8941 Email: bbt@nature.org.vn
Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Chịu trách nhiệm xuất bản: Trịnh Lê Nguyên Phụ trách biên tập: Phan Bích Hường
Thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn.
Facebook Linkedin Mail Spotify Website
© Trung tâm Con người và Thiên nhiên - 2026