Facebook Linkedin Mail Spotify Website
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Search
  • Giới thiệu
  • Cảm ơn
  • Bản quyền
  • Liên hệ
  • Podcast
Sign in
Welcome! Log into your account
Forgot your password? Get help
Password recovery
Recover your password
A password will be e-mailed to you.
ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Home Infographics Page 145

Infographics

Most popular
  • Latest
  • Featured posts
  • Most popular
  • 7 days popular
  • By review score
  • Random

Rác thải nhựa là gì? Mất bao lâu để rác thải nhựa có thể phân hủy?

Cú mèo

Địa hình Các-xtơ

Hiện trạng rừng tại Việt Nam tính đến 31/12/2019

12 quốc gia xả rác nhựa nhiều nhất ra biển

Chiêm ngưỡng mưa sao băng lớn nhất năm vào rạng sáng...

Bão số 10 làm hơn 120 người chết và bị thương

Nhà cỏ

Pregnant Maiden – Hồ nước ngọt giữa biển

Bên nhau

Đào thắm mừng xuân

Cây Cau

Lũ lụt, lở đất ở miền Nam Philippines: 13 người thiệt...

Thiệt thòi trẻ di cư tự do

Bão kinh hoàng tại Madeira

1...144145146...157Page 145 of 157
Rừng Xanh Lên

Nghe Podcast

Mới cập nhật

  • Thúc đẩy vai trò Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học
  • Bảo tồn đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc
  • Cơ chế thí điểm OECM: Chờ đợi thêm bao lâu?
  • Bão số 10 gây thiệt hại nặng nề và nỗi đau mất mát
  • Bão số 10 gây thiệt hại rất nghiêm trọng khiến 19 người chết, 13 người mất tích

Trên Facebook

ThienNhien.Net

19 giờ trước

ThienNhien.Net
Mang lớn: loài hươu bước ra từ bí ẩn Trường SơnĐây là bài tiếp theo trong loạt bài về các loài thú móng guốc hoang dã ở Việt Nam. Từ sao la, mang lớn, bò tót đến những loài có thể đã biến mất khỏi tự nhiên như bò xám, mỗi bài là một lát cắt về sự giàu có, mong manh và khoảng trống còn lại trong bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam.Mang lớn, còn gọi là mang Vũ Quang, là một trong những phát hiện thú học đặc biệt của Việt Nam trong thập niên 1990. Loài này được ghi nhận từ vùng Vũ Quang, Hà Tĩnh, cũng là khu vực gắn với phát hiện sao la chỉ trước đó không lâu. Trong nhóm mang, đây là loài có kích thước lớn, với cặp gạc dài và khỏe hơn nhiều loài mang quen thuộc khác. Tên khoa học của loài, Muntiacus vuquangensis, cũng nhắc lại nơi đã đưa loài thú này bước vào bản đồ khoa học thế giới.Theo Sách Đỏ IUCN, mang lớn hiện được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp. Phân bố của loài gắn với dãy Trường Sơn và các vùng đồi núi liên quan ở Việt Nam, Lào và một phần Campuchia. Tuy nhiên, hiểu biết của chúng ta về loài này vẫn còn rất hạn chế. Nhiều ghi nhận đến từ bẫy ảnh, mẫu gạc, thông tin địa phương hoặc các khảo sát rời rạc. Ngay cả ở những nơi từng ghi nhận loài, việc xác định quy mô quần thể, khả năng sinh sản và mức độ kết nối giữa các nhóm cá thể vẫn là một khoảng trống lớn.Mang lớn sống và di chuyển chủ yếu dưới nền rừng, nơi bẫy dây thường được đặt dày đặc. Vì vậy, loài này rất dễ trở thành nạn nhân, dù bẫy không nhất thiết được đặt riêng để bắt mang lớn. Bẫy không phân biệt loài phổ biến hay loài Cực kỳ nguy cấp. Một chiếc bẫy đặt cho thú rừng nói chung có thể giết một cá thể mang lớn, sao la, cheo cheo, cầy, lửng hay chim mặt đất. Với những loài vốn đã hiếm, mỗi cá thể mất đi đều có thể là tổn thất rất lớn cho khả năng phục hồi của cả quần thể.Câu chuyện của mang lớn cho thấy Trường Sơn không chỉ đặc biệt vì có nhiều loài quý hiếm, mà còn vì vẫn còn những loài mà khoa học mới biết đến rất gần đây. Nhưng phát hiện một loài mới không đồng nghĩa với bảo vệ được loài đó. Nếu rừng vẫn đầy bẫy, nếu sinh cảnh tiếp tục bị chia cắt, nếu các quần thể nhỏ không còn đường kết nối, những phát hiện từng làm thế giới kinh ngạc có thể nhanh chóng trở thành những ghi chú buồn trong lịch sử bảo tồn.Bảo vệ mang lớn vì vậy không chỉ là bảo vệ một loài hươu hiếm. Đó là bảo vệ nền rừng Trường Sơn, bảo vệ những đường đi của thú hoang, bảo vệ khả năng hồi phục của cả quần xã động vật sống âm thầm dưới tán rừng. Sau sao la, mang lớn nhắc chúng ta thêm một lần nữa rằng những loài đặc hữu và nguy cấp nhất thường không cần những khẩu hiệu lớn. Chúng cần những cánh rừng an toàn hơn, ít bẫy hơn và được theo dõi nghiêm túc hơn trước khi quá muộn.Ảnh: biolib.cz.#manglon#mangvuquang#truongson#thumongguochoangda#baotondongvathoangda#giambayday#THIENNHIENVIETNAM ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

2 ngày trước

ThienNhien.Net
Bò tót và bò rừng: dấu chân lớn của rừng khôĐây là bài tiếp theo trong loạt bài về các loài thú móng guốc hoang dã ở Việt Nam. Từ sao la, mang lớn, bò tót đến những loài có thể đã biến mất khỏi tự nhiên như bò xám, mỗi bài là một lát cắt về sự giàu có, mong manh và khoảng trống còn lại trong bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam.Trong các loài thú móng guốc còn lại ở Việt Nam, bò tót và bò rừng là hai đại diện lớn nhất, gắn với những cảnh quan rừng khô, rừng bán thường xanh, trảng cỏ và các khoảng rừng thưa ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Bò tót có thân hình đồ sộ, lưng cao, chân trắng như đi tất. Bò rừng, hay banteng, nhỏ hơn nhưng cũng là một loài bò hoang rất đặc trưng của Đông Nam Á. Sự hiện diện của chúng cho thấy một khu rừng không chỉ còn cây, mà còn giữ được phần nào không gian sống cho các loài thú lớn.Theo Sách Đổ IUCN, bò tót hiện được xếp ở mức Sắp nguy cấp. Bò rừng đã được nâng lên mức Cực kỳ nguy cấp do suy giảm quần thể nghiêm trọng trên toàn vùng phân bố. Ở Việt Nam, hai loài này từng được ghi nhận tại một số khu rừng quan trọng như Yok Đôn, Ea Sô và Cát Tiên. Các nghiên cứu trước đây cho thấy Cát Tiên là một trong những nơi quan trọng nhất đối với bò tót, còn bò rừng từng được ghi nhận chủ yếu ở các sinh cảnh rừng khô, trảng cỏ và rừng thưa tại Tây Nguyên. Những năm gần đây, các ghi nhận mới tại Ea Sô càng cho thấy giá trị đặc biệt của các mảng sinh cảnh còn lại đối với bảo tồn thú móng guốc lớn.Bò tót và bò rừng không chỉ là những loài thú to lớn gây ấn tượng. Chúng là một phần quan trọng trong cấu trúc vận hành của hệ sinh thái. Khi di chuyển, kiếm ăn và sử dụng các bãi cỏ, bãi trống, bờ suối, chúng góp phần duy trì sự đa dạng của cảnh quan rừng. Phân của chúng đưa hạt giống đi xa hơn. Các đường mòn chúng tạo ra được nhiều loài khác sử dụng. Nơi nào còn đàn bò hoang đủ an toàn để sinh sống, nơi đó thường vẫn còn những mảnh ghép quan trọng của một hệ sinh thái rừng khỏe.Nhưng chính kích thước lớn và nhu cầu sinh cảnh rộng cũng khiến chúng rất dễ bị tổn thương. Một đàn bò hoang cần những khu vực kiếm ăn, uống nước, trú ẩn và di chuyển theo mùa. Nếu rừng bị chia cắt bởi đường sá, nương rẫy, khai thác lâm sản hoặc chăn thả gia súc, không gian sống của chúng bị thu hẹp rất nhanh. Săn bắn, bẫy dây, súng tự chế, cạnh tranh với gia súc và nguy cơ lây bệnh từ vật nuôi đều là những áp lực nghiêm trọng. Với các quần thể nhỏ, chỉ một vài cá thể trưởng thành bị mất đi cũng có thể làm suy yếu cả đàn.Câu chuyện của bò tót và bò rừng nhắc chúng ta rằng bảo tồn thú lớn không thể tách khỏi bảo tồn cảnh quan. Không thể giữ chúng bằng vài khoảnh rừng nhỏ, rời rạc và nhiều xáo trộn. Cần những khu rừng đủ rộng, có trảng cỏ, bãi ăn, nguồn nước, hành lang di chuyển và mức độ bảo vệ thực sự hiệu quả. Nếu sao la là biểu tượng của những bí ẩn Trường Sơn, bò tót và bò rừng là lời nhắc về phần cơ thể mạnh mẽ của rừng khô: những dấu chân lớn giữ nhịp cho cả một cảnh quan sống.Ảnh: bò rừng (Bos javanicus) tại Khu BTTN Ea Sô. Nguồn: CCD.#botot#borung#banteng#thumongguochoangda#rungkhotaynguyen#baotonsinhcanh#THIENNHIENVIETNAM ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

3 ngày trước

ThienNhien.Net
Bò xám: khi một loài lớn biến mất trong im lặngĐây là bài tiếp theo trong loạt bài về các loài thú móng guốc hoang dã ở Việt Nam. Từ sao la, mang lớn, bò tót đến những loài có thể đã biến mất khỏi tự nhiên như bò xám, mỗi bài là một lát cắt về sự giàu có, mong manh và khoảng trống còn lại trong bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam.Bò xám, hay kouprey, là một trong những loài bò hoang bí ẩn nhất từng được ghi nhận ở Đông Dương. Loài này được khoa học mô tả vào năm 1937, gắn với các sinh cảnh rừng thưa, rừng khô và trảng cỏ ở Campuchia, nam Lào, đông Thái Lan và vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Với thân hình lớn, cặp sừng đặc trưng và đời sống gắn với những cảnh quan rừng khộp rộng mở, bò xám từng là một phần của thế giới thú lớn ở vùng biên giới Đông Dương. Nhưng ngày nay, loài này hầu như chỉ còn hiện diện trong các tài liệu khoa học, các cuộc khảo sát cũ và những câu chuyện rời rạc của người từng sống gần rừng.Theo IUCN, bò xám hiện được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp và có thể đã tuyệt chủng. Đây là cách diễn đạt rất quan trọng, vì nó cho thấy giới khoa học chưa có đủ cơ sở để khẳng định tuyệt đối rằng loài này đã biến mất khỏi Trái đất, nhưng cũng không có bằng chứng đáng tin cậy nào gần đây để chứng minh điều ngược lại. Những vùng từng được xem là có khả năng còn bò xám, trong đó có Yok Đôn và các khu rừng khô lân cận ở Tây Nguyên, đã trải qua nhiều đợt khảo sát nhưng không tìm thấy bằng chứng xác nhận sự tồn tại của loài. Với một loài thú lớn, sống trên mặt đất và cần không gian rộng, sự vắng bóng kéo dài như vậy là một tín hiệu rất đáng buồn.Câu chuyện bò xám cũng cho thấy mất loài thường không xảy ra đột ngột. Trước khi một loài bị xem là biến mất, nó đã trải qua nhiều lớp suy giảm: mất sinh cảnh, săn bắn, xáo trộn do chiến tranh, áp lực từ con người và sự chia cắt các cảnh quan tự nhiên. Khi số lượng cá thể còn quá thấp, mỗi quần thể nhỏ trở nên mong manh trước bệnh tật, giao phối cận huyết, thiếu bạn ghép đôi và những biến động ngẫu nhiên. Một loài thú lớn có thể từng hiện diện mạnh mẽ trong cảnh quan, nhưng khi suy giảm đến ngưỡng cuối cùng, nó có thể biến mất mà không để lại nhiều dấu vết.Bò xám là một bài học đau xót cho bảo tồn ở Việt Nam và Đông Dương. Nếu chỉ nhìn rừng như diện tích có cây, chúng ta có thể không nhận ra những mất mát đang diễn ra bên trong. Rừng khộp vẫn còn đó, trảng cỏ vẫn còn đó, nhưng những loài thú lớn từng tạo nên nhịp sống của cảnh quan có thể đã không còn. Bảo tồn vì vậy không chỉ là giữ màu xanh trên bản đồ, mà còn là giữ lại các quần thể động vật đủ lớn, đủ an toàn và đủ kết nối để tiếp tục tồn tại.Nhìn lại bò xám cũng là nhìn về tương lai của những loài thú móng guốc khác. Sao la, mang lớn, bò rừng, bò tót, nai, hươu và sơn dương đều cần những khu rừng không chỉ còn cây, mà còn ít bẫy, ít săn bắt và có không gian sinh thái đủ rộng. Một khi dấu chân cuối cùng đã biến mất, rất khó để sửa sai. Bài học từ bò xám cần được nhắc lại không phải để tiếc nuối, mà để những loài còn lại không đi tiếp con đường ấy.#boxam#kouprey#thumongguochoangda#baotondongvathoangda#rungkhoptaynguyen#matloai#THIENNHIENVIETNAM ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

4 ngày trước

ThienNhien.Net
Sao la: cuộc tìm kiếm chưa có lời đápĐây là bài đầu tiên trong loạt bài về các loài thú móng guốc hoang dã ở Việt Nam. Từ sao la, mang lớn, bò tót đến những loài có thể đã biến mất khỏi tự nhiên như bò xám, mỗi bài là một lát cắt về sự giàu có, mong manh và khoảng trống còn lại trong bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam.Sao la là một trong những phát hiện thú học đặc biệt nhất của thế kỷ XX. Loài này được khoa học mô tả vào năm 1992 từ vùng rừng Trường Sơn, dọc biên giới Việt Nam và Lào. Với cặp sừng dài, thẳng và dáng vẻ khác biệt, sao la nhanh chóng được gọi bằng cái tên “kỳ lân châu Á”. Nhưng phía sau cái tên gợi nhiều tò mò ấy là một thực tế rất nghiêm trọng: hơn ba thập kỷ sau khi được phát hiện, con người vẫn biết quá ít về sinh thái, tập tính, số lượng và tình trạng thực sự của loài này trong tự nhiên.Theo Sách Đỏ IUCN, sao la hiện được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp. Ghi nhận chắc chắn gần đây nhất thường được nhắc đến là ảnh bẫy máy tại Việt Nam vào năm 2013. Kể từ đó, dù đã có nhiều nỗ lực tìm kiếm trên thực địa, sử dụng bẫy ảnh, khảo sát dấu vết, thông tin cộng đồng và các cách tiếp cận mới hơn, đến nay vẫn chưa có bằng chứng được xác nhận rộng rãi cho thấy sao la còn tồn tại trong tự nhiên. Việc chưa tìm thấy không có nghĩa là loài này chắc chắn đã tuyệt chủng, nhưng cũng không thể xem sự im lặng kéo dài này như một tín hiệu bình thường.Nếu sao la vẫn còn tồn tại, số lượng cá thể nhiều khả năng rất thấp và phân tán trong những khu rừng khó tiếp cận. Nếu loài này đã biến mất, đó sẽ là một trong những mất mát lớn nhất của bảo tồn khu vực Đông Dương hiện đại. Điều đau xót là sao la không phải loài bị săn bắt có chủ đích nhiều như một số loài thú khác. Mối đe dọa lớn nhất đối với sao la, cũng như nhiều loài thú đi trên mặt đất ở Trường Sơn, là bẫy dây. Những chiếc bẫy đặt để bắt thú rừng nói chung có thể giết cả những loài cực hiếm mà có khi người đặt bẫy chưa từng nhìn thấy.Câu chuyện sao la vì vậy không chỉ là câu chuyện đi tìm một loài thú bí ẩn. Đó là phép thử về năng lực bảo vệ rừng ở tầng nền, nơi các loài thú móng guốc, thú ăn thịt nhỏ, chim mặt đất và nhiều loài động vật khác phải đi qua mỗi ngày. Một khu rừng có thể vẫn xanh trên ảnh vệ tinh, nhưng nếu nền rừng đầy bẫy và vắng bóng thú hoang, khu rừng ấy đã mất đi phần sống động nhất. Với sao la, thời gian có thể không còn nhiều. Với các loài khác của Trường Sơn, bài học từ sao la cần được nhìn nhận sớm hơn, trước khi chúng cũng chỉ còn lại trong hồ sơ khoa học và ký ức bảo tồn.#SaoLa#KyLanChauA#ThuMongGuocHoangDa#BaoTonDongVatHoangDa#RungTruongSon#GiamBayDay#ThienNhienVietNam ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

5 ngày trước

ThienNhien.Net
Mùa mật ong rừng KbangHàng năm khi những cánh rừng ở Kbang, Gia Lai bước vào mùa cây rừng đồng loạt nở hoa, cũng là lúc những người thợ lấy mật bắt đầu vào rừng. Mật ong rừng Kbang có màu vàng hổ phách, hương thơm đặc trưng của hàng chục loài hoa khác nhau như dầu, bằng lăng, dẻ, sim và nhiều loài cây bản địa của hệ sinh thái rừng khộp, rừng thường xanh. Chính sự đa dạng của nguồn hoa đã tạo nên hương vị đậm đà, khác biệt mà khó nơi nào có được. Với nhiều người dân địa phương, mùa mật không chỉ mang lại nguồn thu nhập đáng kể mà còn là một phần của tri thức bản địa gắn bó với rừng từ bao đời.Ít ai biết rằng, để tạo ra một ki-lô-gam mật, đàn ong phải bay qua hàng triệu bông hoa. Trong quá trình đó, chúng thực hiện một công việc vô cùng quan trọng là thụ phấn cho cây rừng. Nhờ những chuyến bay không biết mệt mỏi của ong, nhiều loài thực vật có thể kết hạt, tái sinh và duy trì đa dạng sinh học. Có thể nói, mỗi giọt mật ong không chỉ là món quà của thiên nhiên mà còn là kết quả của một hệ sinh thái khỏe mạnh, nơi rừng, hoa và côn trùng cùng tồn tại trong sự gắn kết chặt chẽ.Chính vì vậy, khai thác mật ong rừng cũng cần đi cùng với trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên. Những phương pháp lấy mật truyền thống như chỉ thu một phần bánh tổ, không đốt lửa làm chết đàn ong, không phá hủy tổ và hạn chế khai thác trong mùa sinh sản sẽ giúp đàn ong tiếp tục tồn tại và quay trở lại vào năm sau. Quan trọng hơn cả là bảo vệ những cánh rừng tự nhiên, bởi nếu rừng mất đi thì nguồn hoa cũng mất, ong sẽ không còn nơi kiếm ăn và mùa mật rồi cũng chỉ còn trong ký ức. Muốn giữ được đặc sản mật ong rừng Kbang lâu dài, chúng ta không chỉ cần những người thợ lấy mật khéo léo, mà còn cần những cánh rừng được gìn giữ nguyên vẹn cho các thế hệ mai sau.Ảnh: GiaLai.Info#matongrung #Kbang #gialai #ongmat #RungTuNhien #DaDangSinhHoc #BaoTonThienNhien ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

Trên YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=hXH3ulZGzSo

Chủ đề nổi bật

BBĐVHD biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu BĐKH bảo vệ môi trường Bảo vệ rừng bệnh truyền nhiễm cháy rừng corona Covid-19 cơ hội việc làm Dịch bệnh Hà Nội Hạn hán Hổ Khai thác khoáng sản khoáng sản khu công nghiệp lũ lụt Mê Kông Mưa bão Mưa lũ Mỹ Nghệ An ngà voi phá rừng plastic Quảng Nam rác thải nhựa SARS-CoV-2 sạt lở thiên tai Thủy điện Trung Quốc Trung Quốc vaccine xả thải Ô nhiễm không khí Ô nhiễm môi trường ô nhiễm ĐBSCL ĐVHD đa dạng sinh học đại dịch động vật hoang dã
Giấy phép số 243/GP-TTĐT do Cục PT, TH và TTĐT cấp ngày 11/10/2024
Trụ sở: NV31, Khu đô thị Trung Văn, p. Trung Văn, q. Nam Từ Liêm, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 Fax: 024 3556-8941 Email: bbt@nature.org.vn
Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Chịu trách nhiệm xuất bản: Trịnh Lê Nguyên Phụ trách biên tập: Phan Bích Hường
Thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn.
Facebook Linkedin Mail Spotify Website
© Trung tâm Con người và Thiên nhiên - 2026