Facebook Linkedin Mail Spotify Website
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Search
  • Giới thiệu
  • Cảm ơn
  • Bản quyền
  • Liên hệ
  • Podcast
Sign in
Welcome! Log into your account
Forgot your password? Get help
Password recovery
Recover your password
A password will be e-mailed to you.
ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Home Khoa học - công nghệ Page 24

Khoa học - công nghệ

Random
  • Latest
  • Featured posts
  • Most popular
  • 7 days popular
  • By review score
  • Random

Đức sẽ đưa 1 triệu ôtô chạy điện ra lưu thông

Công ty tạo ra thịt từ khí

Điện sa mạc

Sản xuất phân vi sinh từ vỏ cà phê

Nghiên cứu thành công quy trình trồng nấm hầu thủ chịu nhiệt

Giấy có thể tái sử dụng đến 500 lần

Nghiên cứu sản xuất vải kháng khuẩn chống thấm

Nông nghiệp 4.0 tại một số nước đang phát triển ở...

Hệ thống nước nóng rẻ tiền bằng năng lượng mặt trời

Lần theo dấu vết rùa da bằng vệ tinh

Đồng hồ nguyên tử dự báo và theo dõi núi lửa

Bình Dương: Áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm năng lượng...

Giải pháp công nghệ trong đo đạc địa hình bãi bồi...

Hải Dương đưa nhà máy chế biến phân hữu cơ từ...

Áp dụng công nghệ mới để tận dụng nguồn tài nguyên...

1...232425...231Page 24 of 231
Rừng Xanh Lên

Nghe Podcast

Mới cập nhật

  • Thúc đẩy vai trò Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học
  • Bảo tồn đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc
  • Cơ chế thí điểm OECM: Chờ đợi thêm bao lâu?
  • Bão số 10 gây thiệt hại nặng nề và nỗi đau mất mát
  • Bão số 10 gây thiệt hại rất nghiêm trọng khiến 19 người chết, 13 người mất tích

Trên Facebook

ThienNhien.Net

21 giờ trước

ThienNhien.Net
Bò tót và bò rừng: dấu chân lớn của rừng khôĐây là bài tiếp theo trong loạt bài về các loài thú móng guốc hoang dã ở Việt Nam. Từ sao la, mang lớn, bò tót đến những loài có thể đã biến mất khỏi tự nhiên như bò xám, mỗi bài là một lát cắt về sự giàu có, mong manh và khoảng trống còn lại trong bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam.Trong các loài thú móng guốc còn lại ở Việt Nam, bò tót và bò rừng là hai đại diện lớn nhất, gắn với những cảnh quan rừng khô, rừng bán thường xanh, trảng cỏ và các khoảng rừng thưa ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Bò tót có thân hình đồ sộ, lưng cao, chân trắng như đi tất. Bò rừng, hay banteng, nhỏ hơn nhưng cũng là một loài bò hoang rất đặc trưng của Đông Nam Á. Sự hiện diện của chúng cho thấy một khu rừng không chỉ còn cây, mà còn giữ được phần nào không gian sống cho các loài thú lớn.Theo Sách Đổ IUCN, bò tót hiện được xếp ở mức Sắp nguy cấp. Bò rừng đã được nâng lên mức Cực kỳ nguy cấp do suy giảm quần thể nghiêm trọng trên toàn vùng phân bố. Ở Việt Nam, hai loài này từng được ghi nhận tại một số khu rừng quan trọng như Yok Đôn, Ea Sô và Cát Tiên. Các nghiên cứu trước đây cho thấy Cát Tiên là một trong những nơi quan trọng nhất đối với bò tót, còn bò rừng từng được ghi nhận chủ yếu ở các sinh cảnh rừng khô, trảng cỏ và rừng thưa tại Tây Nguyên. Những năm gần đây, các ghi nhận mới tại Ea Sô càng cho thấy giá trị đặc biệt của các mảng sinh cảnh còn lại đối với bảo tồn thú móng guốc lớn.Bò tót và bò rừng không chỉ là những loài thú to lớn gây ấn tượng. Chúng là một phần quan trọng trong cấu trúc vận hành của hệ sinh thái. Khi di chuyển, kiếm ăn và sử dụng các bãi cỏ, bãi trống, bờ suối, chúng góp phần duy trì sự đa dạng của cảnh quan rừng. Phân của chúng đưa hạt giống đi xa hơn. Các đường mòn chúng tạo ra được nhiều loài khác sử dụng. Nơi nào còn đàn bò hoang đủ an toàn để sinh sống, nơi đó thường vẫn còn những mảnh ghép quan trọng của một hệ sinh thái rừng khỏe.Nhưng chính kích thước lớn và nhu cầu sinh cảnh rộng cũng khiến chúng rất dễ bị tổn thương. Một đàn bò hoang cần những khu vực kiếm ăn, uống nước, trú ẩn và di chuyển theo mùa. Nếu rừng bị chia cắt bởi đường sá, nương rẫy, khai thác lâm sản hoặc chăn thả gia súc, không gian sống của chúng bị thu hẹp rất nhanh. Săn bắn, bẫy dây, súng tự chế, cạnh tranh với gia súc và nguy cơ lây bệnh từ vật nuôi đều là những áp lực nghiêm trọng. Với các quần thể nhỏ, chỉ một vài cá thể trưởng thành bị mất đi cũng có thể làm suy yếu cả đàn.Câu chuyện của bò tót và bò rừng nhắc chúng ta rằng bảo tồn thú lớn không thể tách khỏi bảo tồn cảnh quan. Không thể giữ chúng bằng vài khoảnh rừng nhỏ, rời rạc và nhiều xáo trộn. Cần những khu rừng đủ rộng, có trảng cỏ, bãi ăn, nguồn nước, hành lang di chuyển và mức độ bảo vệ thực sự hiệu quả. Nếu sao la là biểu tượng của những bí ẩn Trường Sơn, bò tót và bò rừng là lời nhắc về phần cơ thể mạnh mẽ của rừng khô: những dấu chân lớn giữ nhịp cho cả một cảnh quan sống.Ảnh: bò rừng (Bos javanicus) tại Khu BTTN Ea Sô. Nguồn: CCD.#botot#borung#banteng#thumongguochoangda#rungkhotaynguyen#baotonsinhcanh#THIENNHIENVIETNAM ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

2 ngày trước

ThienNhien.Net
Bò xám: khi một loài lớn biến mất trong im lặngĐây là bài tiếp theo trong loạt bài về các loài thú móng guốc hoang dã ở Việt Nam. Từ sao la, mang lớn, bò tót đến những loài có thể đã biến mất khỏi tự nhiên như bò xám, mỗi bài là một lát cắt về sự giàu có, mong manh và khoảng trống còn lại trong bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam.Bò xám, hay kouprey, là một trong những loài bò hoang bí ẩn nhất từng được ghi nhận ở Đông Dương. Loài này được khoa học mô tả vào năm 1937, gắn với các sinh cảnh rừng thưa, rừng khô và trảng cỏ ở Campuchia, nam Lào, đông Thái Lan và vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Với thân hình lớn, cặp sừng đặc trưng và đời sống gắn với những cảnh quan rừng khộp rộng mở, bò xám từng là một phần của thế giới thú lớn ở vùng biên giới Đông Dương. Nhưng ngày nay, loài này hầu như chỉ còn hiện diện trong các tài liệu khoa học, các cuộc khảo sát cũ và những câu chuyện rời rạc của người từng sống gần rừng.Theo IUCN, bò xám hiện được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp và có thể đã tuyệt chủng. Đây là cách diễn đạt rất quan trọng, vì nó cho thấy giới khoa học chưa có đủ cơ sở để khẳng định tuyệt đối rằng loài này đã biến mất khỏi Trái đất, nhưng cũng không có bằng chứng đáng tin cậy nào gần đây để chứng minh điều ngược lại. Những vùng từng được xem là có khả năng còn bò xám, trong đó có Yok Đôn và các khu rừng khô lân cận ở Tây Nguyên, đã trải qua nhiều đợt khảo sát nhưng không tìm thấy bằng chứng xác nhận sự tồn tại của loài. Với một loài thú lớn, sống trên mặt đất và cần không gian rộng, sự vắng bóng kéo dài như vậy là một tín hiệu rất đáng buồn.Câu chuyện bò xám cũng cho thấy mất loài thường không xảy ra đột ngột. Trước khi một loài bị xem là biến mất, nó đã trải qua nhiều lớp suy giảm: mất sinh cảnh, săn bắn, xáo trộn do chiến tranh, áp lực từ con người và sự chia cắt các cảnh quan tự nhiên. Khi số lượng cá thể còn quá thấp, mỗi quần thể nhỏ trở nên mong manh trước bệnh tật, giao phối cận huyết, thiếu bạn ghép đôi và những biến động ngẫu nhiên. Một loài thú lớn có thể từng hiện diện mạnh mẽ trong cảnh quan, nhưng khi suy giảm đến ngưỡng cuối cùng, nó có thể biến mất mà không để lại nhiều dấu vết.Bò xám là một bài học đau xót cho bảo tồn ở Việt Nam và Đông Dương. Nếu chỉ nhìn rừng như diện tích có cây, chúng ta có thể không nhận ra những mất mát đang diễn ra bên trong. Rừng khộp vẫn còn đó, trảng cỏ vẫn còn đó, nhưng những loài thú lớn từng tạo nên nhịp sống của cảnh quan có thể đã không còn. Bảo tồn vì vậy không chỉ là giữ màu xanh trên bản đồ, mà còn là giữ lại các quần thể động vật đủ lớn, đủ an toàn và đủ kết nối để tiếp tục tồn tại.Nhìn lại bò xám cũng là nhìn về tương lai của những loài thú móng guốc khác. Sao la, mang lớn, bò rừng, bò tót, nai, hươu và sơn dương đều cần những khu rừng không chỉ còn cây, mà còn ít bẫy, ít săn bắt và có không gian sinh thái đủ rộng. Một khi dấu chân cuối cùng đã biến mất, rất khó để sửa sai. Bài học từ bò xám cần được nhắc lại không phải để tiếc nuối, mà để những loài còn lại không đi tiếp con đường ấy.#boxam#kouprey#thumongguochoangda#baotondongvathoangda#rungkhoptaynguyen#matloai#THIENNHIENVIETNAM ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

3 ngày trước

ThienNhien.Net
Sao la: cuộc tìm kiếm chưa có lời đápĐây là bài đầu tiên trong loạt bài về các loài thú móng guốc hoang dã ở Việt Nam. Từ sao la, mang lớn, bò tót đến những loài có thể đã biến mất khỏi tự nhiên như bò xám, mỗi bài là một lát cắt về sự giàu có, mong manh và khoảng trống còn lại trong bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam.Sao la là một trong những phát hiện thú học đặc biệt nhất của thế kỷ XX. Loài này được khoa học mô tả vào năm 1992 từ vùng rừng Trường Sơn, dọc biên giới Việt Nam và Lào. Với cặp sừng dài, thẳng và dáng vẻ khác biệt, sao la nhanh chóng được gọi bằng cái tên “kỳ lân châu Á”. Nhưng phía sau cái tên gợi nhiều tò mò ấy là một thực tế rất nghiêm trọng: hơn ba thập kỷ sau khi được phát hiện, con người vẫn biết quá ít về sinh thái, tập tính, số lượng và tình trạng thực sự của loài này trong tự nhiên.Theo Sách Đỏ IUCN, sao la hiện được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp. Ghi nhận chắc chắn gần đây nhất thường được nhắc đến là ảnh bẫy máy tại Việt Nam vào năm 2013. Kể từ đó, dù đã có nhiều nỗ lực tìm kiếm trên thực địa, sử dụng bẫy ảnh, khảo sát dấu vết, thông tin cộng đồng và các cách tiếp cận mới hơn, đến nay vẫn chưa có bằng chứng được xác nhận rộng rãi cho thấy sao la còn tồn tại trong tự nhiên. Việc chưa tìm thấy không có nghĩa là loài này chắc chắn đã tuyệt chủng, nhưng cũng không thể xem sự im lặng kéo dài này như một tín hiệu bình thường.Nếu sao la vẫn còn tồn tại, số lượng cá thể nhiều khả năng rất thấp và phân tán trong những khu rừng khó tiếp cận. Nếu loài này đã biến mất, đó sẽ là một trong những mất mát lớn nhất của bảo tồn khu vực Đông Dương hiện đại. Điều đau xót là sao la không phải loài bị săn bắt có chủ đích nhiều như một số loài thú khác. Mối đe dọa lớn nhất đối với sao la, cũng như nhiều loài thú đi trên mặt đất ở Trường Sơn, là bẫy dây. Những chiếc bẫy đặt để bắt thú rừng nói chung có thể giết cả những loài cực hiếm mà có khi người đặt bẫy chưa từng nhìn thấy.Câu chuyện sao la vì vậy không chỉ là câu chuyện đi tìm một loài thú bí ẩn. Đó là phép thử về năng lực bảo vệ rừng ở tầng nền, nơi các loài thú móng guốc, thú ăn thịt nhỏ, chim mặt đất và nhiều loài động vật khác phải đi qua mỗi ngày. Một khu rừng có thể vẫn xanh trên ảnh vệ tinh, nhưng nếu nền rừng đầy bẫy và vắng bóng thú hoang, khu rừng ấy đã mất đi phần sống động nhất. Với sao la, thời gian có thể không còn nhiều. Với các loài khác của Trường Sơn, bài học từ sao la cần được nhìn nhận sớm hơn, trước khi chúng cũng chỉ còn lại trong hồ sơ khoa học và ký ức bảo tồn.#SaoLa#KyLanChauA#ThuMongGuocHoangDa#BaoTonDongVatHoangDa#RungTruongSon#GiamBayDay#ThienNhienVietNam ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

4 ngày trước

ThienNhien.Net
Mùa mật ong rừng KbangHàng năm khi những cánh rừng ở Kbang, Gia Lai bước vào mùa cây rừng đồng loạt nở hoa, cũng là lúc những người thợ lấy mật bắt đầu vào rừng. Mật ong rừng Kbang có màu vàng hổ phách, hương thơm đặc trưng của hàng chục loài hoa khác nhau như dầu, bằng lăng, dẻ, sim và nhiều loài cây bản địa của hệ sinh thái rừng khộp, rừng thường xanh. Chính sự đa dạng của nguồn hoa đã tạo nên hương vị đậm đà, khác biệt mà khó nơi nào có được. Với nhiều người dân địa phương, mùa mật không chỉ mang lại nguồn thu nhập đáng kể mà còn là một phần của tri thức bản địa gắn bó với rừng từ bao đời.Ít ai biết rằng, để tạo ra một ki-lô-gam mật, đàn ong phải bay qua hàng triệu bông hoa. Trong quá trình đó, chúng thực hiện một công việc vô cùng quan trọng là thụ phấn cho cây rừng. Nhờ những chuyến bay không biết mệt mỏi của ong, nhiều loài thực vật có thể kết hạt, tái sinh và duy trì đa dạng sinh học. Có thể nói, mỗi giọt mật ong không chỉ là món quà của thiên nhiên mà còn là kết quả của một hệ sinh thái khỏe mạnh, nơi rừng, hoa và côn trùng cùng tồn tại trong sự gắn kết chặt chẽ.Chính vì vậy, khai thác mật ong rừng cũng cần đi cùng với trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên. Những phương pháp lấy mật truyền thống như chỉ thu một phần bánh tổ, không đốt lửa làm chết đàn ong, không phá hủy tổ và hạn chế khai thác trong mùa sinh sản sẽ giúp đàn ong tiếp tục tồn tại và quay trở lại vào năm sau. Quan trọng hơn cả là bảo vệ những cánh rừng tự nhiên, bởi nếu rừng mất đi thì nguồn hoa cũng mất, ong sẽ không còn nơi kiếm ăn và mùa mật rồi cũng chỉ còn trong ký ức. Muốn giữ được đặc sản mật ong rừng Kbang lâu dài, chúng ta không chỉ cần những người thợ lấy mật khéo léo, mà còn cần những cánh rừng được gìn giữ nguyên vẹn cho các thế hệ mai sau.Ảnh: GiaLai.Info#matongrung #Kbang #gialai #ongmat #RungTuNhien #DaDangSinhHoc #BaoTonThienNhien ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

5 ngày trước

ThienNhien.Net
Bảo tồn không chỉ là giữ từng khu rừng riêng lẻMột khu rừng đứng riêng lẻ giữa đường sá, nương rẫy, khu dân cư và các công trình hạ tầng vẫn có giá trị. Nó có thể là nơi trú ẩn cuối cùng của nhiều loài. Nó có thể giữ đất, giữ nước, che chở cho một dòng suối, bảo vệ một sườn núi, lưu giữ những cây bản địa và duy trì một phần ký ức sinh thái của vùng đất. Nhưng một khu rừng cô lập khó có thể thay thế cho một cảnh quan tự nhiên liền mạch. Khi các mảnh rừng bị tách rời khỏi nhau, sự sống bên trong chúng dần trở nên mong manh hơn. Bảo tồn vì thế không thể chỉ dừng lại ở việc giữ từng mảnh xanh còn sót lại. Điều cần thiết hơn là giữ được một mạng lưới sinh thái đủ lớn, đủ lành mạnh và đủ kết nối.Trong nhiều năm, bảo tồn thiên nhiên thường được nhìn qua các khu vực có ranh giới rõ ràng. Đó là vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng, khu rừng phòng hộ, khu đất ngập nước, vùng sinh cảnh quan trọng hoặc một khoảnh rừng có giá trị cao. Cách tiếp cận này rất cần thiết, vì những vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt vẫn là nền tảng của bảo tồn. Không có vùng lõi đủ lớn, nhiều loài nhạy cảm sẽ không còn nơi trú ẩn. Không có những khu rừng ít bị xáo trộn, các quá trình tự nhiên khó được duy trì. Không có các khu bảo tồn được quản lý tốt, rất nhiều loài quý hiếm sẽ mất đi nơi sống cuối cùng.Nhưng các khu bảo tồn không thể tồn tại như những hòn đảo biệt lập. Chim, thú, côn trùng, hạt cây, dòng nước và các quá trình sinh thái không dừng lại ở ranh giới quản lý. Một loài thú có thể cần vùng kiếm ăn nằm ngoài khu bảo tồn. Một loài chim có thể dùng nhiều mảng rừng khác nhau trong năm. Một loài cây có thể phụ thuộc vào động vật phát tán hạt di chuyển qua cả vùng đệm và khu dân cư thưa. Một dòng suối chảy qua khu bảo tồn có thể bắt nguồn từ khu vực bên ngoài. Nếu cảnh quan xung quanh bị chia cắt, suy thoái hoặc chuyển đổi quá mạnh, khu bảo tồn bên trong cũng chịu tác động.Vì vậy, bảo tồn hiện đại cần đi từ tư duy bảo vệ từng điểm sang tư duy quản lý cả cảnh quan. Cảnh quan ở đây không chỉ là phong cảnh nhìn thấy bằng mắt, mà là toàn bộ không gian nơi rừng, sông suối, đất ngập nước, trảng cỏ, nương rẫy, làng bản, đường sá và các dạng sử dụng đất khác cùng tồn tại. Trong cảnh quan đó, có nơi cần bảo vệ nghiêm ngặt, có nơi cần phục hồi, có nơi cần sử dụng bền vững, có nơi cần hạn chế phát triển hạ tầng, có nơi cần duy trì dải cây, bờ suối, hàng rào sinh học hoặc mảng xanh nhỏ để làm cầu nối cho sự sống.Giữ vùng lõi là nhiệm vụ đầu tiên. Vùng lõi là phần sinh cảnh có chất lượng cao, ít bị xáo trộn, đủ rộng và đủ yên tĩnh cho các loài nhạy cảm. Đó có thể là rừng già, rừng phục hồi tốt, vùng núi đá vôi còn nguyên vẹn, đầm lầy tự nhiên, rừng ngập mặn, trảng cỏ tự nhiên hoặc một đoạn sông suối có giá trị đặc biệt. Vùng lõi không nên bị cắt bởi đường mới, công trình mới hoặc các hoạt động gây xáo trộn mạnh. Một khi vùng lõi bị chia nhỏ, việc phục hồi lại sự yên tĩnh và ổn định ban đầu sẽ rất khó. Với nhiều loài, mất vùng lõi cũng gần như mất nền tảng sống.Bên cạnh vùng lõi, cần giảm áp lực vùng rìa. Một khu rừng có thể bị suy yếu không chỉ vì bị chặt phá bên trong, mà còn vì những tác động liên tục từ bên ngoài. Lửa, tiếng ồn, rác thải, hóa chất, vật nuôi thả rông, săn bắt, bẫy, khai thác lâm sản trái phép và việc mở thêm đường mòn đều có thể làm vùng rìa lấn sâu vào rừng. Quản lý tốt vùng rìa không có nghĩa là tách con người ra hoàn toàn khỏi thiên nhiên, mà là giảm những tác động làm cho sinh cảnh mất dần chất lượng. Ở nhiều nơi, chỉ cần kiểm soát bẫy, hạn chế đốt lửa, quản lý vật nuôi, phục hồi cây bản địa ở mép rừng và giảm xáo trộn trong mùa sinh sản của động vật, chất lượng sinh cảnh đã có thể cải thiện đáng kể.Hành lang sinh thái là một phần quan trọng của giải pháp. Hành lang không nhất thiết lúc nào cũng là một dải rừng rộng và hoàn hảo. Đó có thể là dải rừng ven sông suối, một sườn núi còn cây bản địa, một chuỗi mảng rừng nhỏ nằm giữa hai khu rừng lớn, một vùng nông lâm kết hợp thân thiện với động vật hoang dã, hoặc một khu vực phục hồi được thiết kế để nối lại các sinh cảnh đã bị chia cắt. Giá trị của hành lang nằm ở khả năng giúp các loài di chuyển, trao đổi nguồn gen, tìm thức ăn, mở rộng vùng sống và thích ứng với thay đổi môi trường. Với những quần thể nhỏ bị cô lập, một kết nối được phục hồi đúng chỗ có thể tạo ra khác biệt rất lớn.Không phải mảnh xanh nhỏ nào cũng có giá trị như nhau, nhưng cũng không nên xem nhẹ tất cả các mảnh nhỏ. Một mảng rừng nhỏ nằm ở vị trí chiến lược có thể đóng vai trò điểm nghỉ cho chim, nơi trú ẩn cho thú nhỏ, nguồn hạt giống cho phục hồi hoặc mắt xích nối giữa hai vùng sinh cảnh lớn. Một dải cây ven suối có thể là đường đi tự nhiên của nhiều loài. Một hàng cây bản địa trong vùng canh tác có thể giúp côn trùng thụ phấn và chim di chuyển. Một khoảnh đất ngập nước nhỏ có thể là nơi sinh sản của lưỡng cư và chim nước. Vấn đề là phải nhìn các mảnh nhỏ trong quan hệ với toàn bộ cảnh quan, thay vì đánh giá chúng như những phần rời rạc.Phục hồi sinh thái cần được đặt trong mục tiêu nối lại sự sống, không chỉ phủ xanh đất trống. Nếu một khu vực trồng cây nằm đúng vị trí giữa hai mảnh rừng bị tách rời, nó có thể giúp hàn gắn kết nối. Nếu cây trồng là loài bản địa phù hợp, có cấu trúc nhiều tầng, có khả năng cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn cho động vật, giá trị sinh thái sẽ cao hơn nhiều so với một vùng cây trồng đơn loài. Nếu phục hồi đi kèm giảm săn bắt, giảm bẫy, bảo vệ suối, kiểm soát lửa và tạo điều kiện cho cây tái sinh tự nhiên, hệ sinh thái có cơ hội phục hồi thật sự. Một khu vực xanh lên rất nhanh chưa chắc đã trở thành sinh cảnh tốt. Một khu vực phục hồi đúng cách có thể mất nhiều thời gian hơn, nhưng tạo ra nền tảng bền vững hơn.Trong cảnh quan bị phân mảnh, sông suối và các dải cây ven nước cần được ưu tiên đặc biệt. Rừng ven sông suối vừa giữ đất, giữ nước, giảm xói mòn, điều hòa nhiệt độ nước, vừa là đường di chuyển tự nhiên của nhiều loài. Ở nhiều nơi, chỉ cần giữ được các dải cây bản địa ven suối, cảnh quan đã có thêm một mạng lưới kết nối quan trọng. Ngược lại, khi suối bị bê tông hóa, bờ suối bị phát quang, rừng ven nước bị chuyển đổi, cảnh quan mất đi một hệ thống đường sống tự nhiên. Bảo vệ rừng ven sông suối không chỉ là bảo vệ nước, mà còn là bảo vệ các kết nối sinh thái chạy xuyên qua cảnh quan.Quy hoạch phát triển cần nhận diện các kết nối sinh thái trước khi quyết định vị trí công trình. Một tuyến đường, một hồ chứa, một khu du lịch, một vùng sản xuất hoặc một khu dân cư mới có thể tạo ra tác động rất khác nhau tùy vào vị trí. Nếu công trình cắt qua vùng lõi, đường di chuyển của loài hoặc dải rừng nối giữa hai khu sinh cảnh, tổn thất sinh thái có thể lớn hơn nhiều so với diện tích bị mất trực tiếp. Nếu quy hoạch tránh được các khu vực nhạy cảm, giữ lại hành lang, bố trí đường chui hoặc cầu vượt sinh thái ở nơi cần thiết, hạn chế mở thêm đường nhánh và phục hồi cây bản địa sau thi công, tác động có thể giảm đáng kể. Quy hoạch tốt là quy hoạch nhìn thấy cả những đường đi của sự sống, không chỉ nhìn thấy đường đi của con người.Các khu bảo tồn cũng cần được quản lý trong mối liên hệ với vùng xung quanh. Một vườn quốc gia sẽ khó bảo vệ các loài cần vùng sống rộng nếu vùng đệm bị chia cắt mạnh. Một khu bảo tồn linh trưởng sẽ khó phục hồi quần thể nếu các dải rừng nối giữa các nhóm cá thể bị mất. Một vùng đất ngập nước sẽ khó duy trì chức năng nếu dòng nước cấp cho nó bị thay đổi từ bên ngoài. Vì vậy, quản lý khu bảo tồn cần gắn với quy hoạch sử dụng đất, sinh kế cộng đồng, phục hồi sinh cảnh, kiểm soát săn bắt và hợp tác giữa các địa phương. Ranh giới pháp lý rất quan trọng, nhưng ranh giới sinh thái thường rộng hơn ranh giới pháp lý.Người dân địa phương có vai trò lớn trong việc duy trì kết nối sinh thái. Nhiều hành lang, dải rừng ven suối, mảng cây bản địa, bãi chăn thả, nương rẫy và khu đất cộng đồng nằm ngoài các khu bảo tồn chính thức. Nếu sinh kế của người dân không được tính đến, các giải pháp kết nối sẽ khó bền vững. Ngược lại, nếu phục hồi sinh thái đi cùng lợi ích thiết thực như giữ nước, giảm sạt lở, tăng cây bản địa có giá trị, phát triển nông lâm kết hợp, giảm thiệt hại do thiên tai, tạo sinh kế dựa vào du lịch cộng đồng hoặc dịch vụ môi trường, người dân có thể trở thành lực lượng bảo vệ kết nối sinh thái hiệu quả nhất. Cảnh quan không thể được nối lại chỉ bằng bản đồ. Nó cần sự đồng thuận và tham gia của những người sống trong cảnh quan đó.Bảo tồn kết nối cũng là một cách chuẩn bị cho biến đổi khí hậu. Khi khí hậu thay đổi, nhiều loài sẽ cần dịch chuyển để tìm nơi có nhiệt độ, độ ẩm và nguồn thức ăn phù hợp hơn. Những loài ở vùng núi có thể cần di chuyển theo độ cao. Những loài phụ thuộc vào nước có thể cần tiếp cận các dòng suối còn ổn định. Những loài có mùa sinh sản gắn với mùa mưa, mùa quả hoặc mùa hoa có thể phải thay đổi phạm vi di chuyển. Nếu cảnh quan bị chia cắt, các loài bị mắc kẹt trong những mảnh sinh cảnh nhỏ. Nếu cảnh quan còn kết nối, chúng có thêm cơ hội thích ứng.Điều quan trọng là phải đưa kết nối sinh thái trở thành một tiêu chí trong quyết định phát triển. Không chỉ hỏi dự án có nằm trong khu bảo tồn hay không. Cần hỏi dự án có nằm trên đường di chuyển của loài không. Không chỉ hỏi mất bao nhiêu diện tích rừng. Cần hỏi phần rừng bị mất có vai trò nối kết hay không. Không chỉ hỏi còn bao nhiêu mảng xanh. Cần hỏi các mảng xanh ấy có tạo thành mạng lưới hay chỉ là những điểm rời rạc. Không chỉ hỏi trồng được bao nhiêu cây. Cần hỏi cây ấy có phục hồi được sinh cảnh, thức ăn, bóng râm, đất, nước và đường đi cho sự sống hay không.Bài học lớn nhất từ câu chuyện phân mảnh hệ sinh thái là thiên nhiên cần sự liền mạch. Sự liền mạch ấy không có nghĩa là mọi nơi đều phải trở thành rừng nguyên sinh. Trong một đất nước đang phát triển, cảnh quan luôn có làng bản, ruộng vườn, đường sá, đô thị, công trình và các vùng sản xuất. Nhưng giữa các nhu cầu đó, vẫn phải giữ những không gian không thể thay thế cho sự sống. Vùng lõi cần được bảo vệ. Hành lang cần được duy trì. Rừng ven suối cần được giữ lại. Các mảng sinh cảnh quan trọng cần được phục hồi. Các vết cắt mới cần được cân nhắc kỹ. Những nơi đã bị đứt gãy cần được hàn gắn từng bước.Giữ thiên nhiên không chỉ là giữ lại những phần còn sót. Đó là giữ cho các phần ấy còn liên hệ với nhau. Một khu rừng cần nối với dòng suối. Một dòng suối cần nối với rừng đầu nguồn. Một mảnh sinh cảnh nhỏ cần nối với vùng lõi lớn hơn. Một quần thể loài cần nối với các quần thể khác. Một khu bảo tồn cần nối với cảnh quan xung quanh. Khi các kết nối ấy còn tồn tại, thiên nhiên còn khả năng tự phục hồi. Khi các kết nối ấy mất đi, những mảng xanh có thể vẫn còn trên bản đồ, nhưng sự sống bên trong đã bị thu hẹp.Bảo tồn trong thời đại phân mảnh không thể chỉ là vẽ thêm ranh giới bảo vệ. Nó phải là công việc giữ, nối và phục hồi các mối liên hệ sinh thái. Giữ những vùng lõi còn tốt. Nối lại những mảnh sinh cảnh bị chia cắt. Phục hồi những dải rừng, dòng suối, vùng đất ngập nước và mảng cây bản địa có vai trò kết nối. Giảm những sức ép làm vùng rìa lấn sâu vào rừng. Đưa đường đi của động vật, dòng chảy của nước và sự phát tán của hạt cây vào quy hoạch phát triển.Một cảnh quan khỏe mạnh không phải là nơi chỉ còn vài khu rừng được khoanh lại để bảo vệ. Đó là nơi các khu rừng, dòng suối, vùng đất ngập nước, trảng cỏ, nương rẫy thân thiện với sinh thái và không gian sống của con người được sắp xếp theo cách không làm đứt gãy hoàn toàn sự sống. Khi bảo tồn được nhìn như một mạng lưới, mỗi quyết định về đất đai, hạ tầng, phục hồi và sinh kế đều có thể góp phần giữ cho thiên nhiên tiếp tục vận hành.#phanmanhhesinhthai #ketnoisinhthai #BaoTonThienNhien #PhucHoiSinhThai #quyhoachsinhthai #DaDangSinhHoc #THIENNHIENVIETNAM ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

Trên YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=hXH3ulZGzSo

Chủ đề nổi bật

BBĐVHD biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu BĐKH bảo vệ môi trường Bảo vệ rừng bệnh truyền nhiễm cháy rừng corona Covid-19 cơ hội việc làm Dịch bệnh Hà Nội Hạn hán Hổ Khai thác khoáng sản khoáng sản khu công nghiệp lũ lụt Mê Kông Mưa bão Mưa lũ Mỹ Nghệ An ngà voi phá rừng plastic Quảng Nam rác thải nhựa SARS-CoV-2 sạt lở thiên tai Thủy điện Trung Quốc Trung Quốc vaccine xả thải Ô nhiễm không khí Ô nhiễm môi trường ô nhiễm ĐBSCL ĐVHD đa dạng sinh học đại dịch động vật hoang dã
Giấy phép số 243/GP-TTĐT do Cục PT, TH và TTĐT cấp ngày 11/10/2024
Trụ sở: NV31, Khu đô thị Trung Văn, p. Trung Văn, q. Nam Từ Liêm, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 Fax: 024 3556-8941 Email: bbt@nature.org.vn
Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Chịu trách nhiệm xuất bản: Trịnh Lê Nguyên Phụ trách biên tập: Phan Bích Hường
Thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn.
Facebook Linkedin Mail Spotify Website
© Trung tâm Con người và Thiên nhiên - 2026