Hành trình rùa biển – Bài 1: Những “công dân” tự do

Đăng ngày

Từ trên máy bay nhìn xuống, Côn Đảo đẹp như bức tranh với những nét chấm phá là các đảo lớn nhỏ đan xen nhau. Ông Lê Xuân Ái – nguyên Giám đốc Vườn quốc gia Côn Đảo chỉ tay qua ô cửa máy bay giới thiệu vắn tắt các bãi, trạm kiểm lâm bảo tồn rùa biển.

Thả rùa con về biển (Ảnh: Xuân Thọ)

Người đàn ông xứ Quảng này, hơn nửa cuộc đời mình dành cho bảo tồn biển ở Côn Đảo, đặc biệt là rùa biển. Ông như pho sử sống về những câu chuyện của các loài rùa biển.

Bí ẩn chưa có lời giải

Xâu chuỗi tài liệu đọc được, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện đã được nghe kể, những vấn đề đã được giảng giải, mới nhận ra rằng loài động vật này dù không lạ, nhưng vẫn còn muôn vàn bí ẩn. Rùa biển xuất hiện cách đây khoảng 200 triệu năm, trước cả khi loài khủng long in dấu chân mình trên trái đất. Nhưng 100 triệu năm sau đó, khi khủng long bị tuyệt chủng thì rùa biển vẫn còn sống cho đến bây giờ. Đáng nói, đối chiếu với các mẫu hóa thạch từ hàng trăm triệu năm trước đó với rùa bây giờ, chúng vẫn không biến đổi. “Và vấn đề này, hàng trăm, hàng chục năm qua vẫn đang làm đau đầu các nhà khoa học. Những câu hỏi, tại sao rùa vẫn có thể sống sót trước những biến động khủng khiếp của trái đất khiến khủng long tuyệt chủng vẫn đang lơ lửng câu trả lời. Còn về mặt tâm linh, trong nhóm tứ linh, chỉ có duy nhất rùa là hiện hữu trên cõi đời này. Có lẽ vì thế, trong nếp nghĩ của con người từ xưa đến nay, rùa biển là loài trường tồn với thời gian, nên không phải ngẫu nhiên mà ở Văn miếu Quốc Tử Giám, cha ông ta đã tạc tượng rùa chở các bia tiến sĩ” – ông Ái chia sẻ.

Theo các chuyên gia, trong số 1.000 rùa con chỉ có vài con sống sót và trưởng thành theo quy luật tự nhiên (Ảnh: Xuân Thọ)

Tua ngược thời gian về lúc rùa mới nở, rồi chui lên khỏi tổ, dỏng tai nghe tiếng sóng và hướng cái nhìn về phía biển, là rùa con đã kích hoạt những đặc tính của giống loài mình. “Trong nỗ lực chui ra khỏi vỏ, cát sẽ sụt xuống và lấp vào khoảng trống ấy. Rùa con dựa vào đấy để chui dần lên mặt đất. Sau khi lên khỏi tổ, rùa con không xuống biển ngay mà nằm im đợi những anh chị em của mình lên đi cùng. Việc này có ba chủ đích, thứ nhất là dưỡng sức sau khi tiêu hao quá nhiều năng lượng để chui lên khỏi tổ; thứ hai là rùa con đợi lúc mực thủy triều lên cao nhất để khoảng cách xuống biển trở nên gần hơn; thứ ba là trên đường xuống biển và chặng đường sau đó, rùa con phải đối mặt với những động vật chờ săn mồi, đi với số đông thì tỷ lệ sống sót của chúng sẽ được tăng thêm phần nào. Rùa con không sống dưới đáy biển mà bơi trên mặt nước, vì thế chúng phải đối diện cùng lúc với hai mối nguy đó là cá và chim ăn thịt, bởi lúc này mai của chúng còn mềm” – ông Ái cho biết. Cũng theo ông Ái, các nhà khoa học tính toán rằng, cứ 1.000 rùa con từ lúc trên bờ xuống biển, chỉ có khoảng vài con sống sót và trưởng thành theo quy luật tự nhiên.

Không thể nuôi nhốt

Câu hỏi được đặt ra: Tại sao chúng ta không nuôi nhốt, đợi cho rùa trưởng thành rồi mới thả chúng ra biển? Tại Côn Đảo, đã từng có một thời gian ngắn thực hiện công việc này, nhưng đó là một cách làm hết sức tai hại, may mà sai lầm ấy sớm được phát hiện và sửa chữa. Trong ký ức của ông Ái, đó là vào khoảng đầu tháng 5.1995, với cách nghĩ như câu hỏi trên, những hồ xi măng rộng khoảng vài mét vuông được xây dựng tại một số trạm kiểm lâm để nuôi nhốt rùa con sau khi nở. Đến tháng 9 năm đó, một đoàn chuyên gia quốc tế về rùa biển đến thăm, tìm hiểu công tác bảo tồn rùa biển tại Côn Đảo. Nhìn cảnh hàng nghìn rùa con bơi trong bể nhỏ xíu, đoàn chuyên gia ngạc nhiên và nói “bảo tồn như vậy là sai rồi”. “Họ yêu cầu chúng tôi vớt số rùa này lên và thả ra biển ngay tức khắc. Họ giảng giải xong mới biết là nuôi nhốt kiểu đó sẽ làm rùa đuối sức, và quan trọng hơn là sẽ giết chết những đặc tính sinh học về cảm nhận hướng biển, tiếng sóng biển cũng như kỹ năng sinh tồn khác của rùa” – ông Ái nhớ lại.

Sau lần đó, một số thành viên của Vườn quốc gia Côn Đảo được tài trợ đi học bảo tồn rùa biển ở Philippines. Đó được xem là chuyến đi học một cách đầy đủ, bài bản về công tác này, vì trước đó, chủ yếu là… tự mày mò. Một tháng sau khi học xong, đoàn trở về. Qua Hòn Tài, ông Ái phát hiện ở đây còn có một bể đang nuôi rùa con nên truyền đạt lại những kiến thức đã học cho anh em, đồng thời vớt số rùa này đem thả. “Mới nuôi được vài ngày, nhưng khi thả ra, chỉ có một con nhằm hướng biển bò xuống, còn lại đều bò ngược về hướng núi, nghĩa là chúng mất khả năng định vị. Khả năng của rùa con, là tự định vị được hướng biển, ghi nhận và lưu giữ những thông tin nơi mình nở ra và bò xuống biển. Để rồi vài chục năm sau đó, khi sống sót và trưởng thành, rùa sẽ quay trở lại chính nơi này để tiếp tục đẻ trứng” – ông Ái cắt nghĩa.

“Công dân” tự do

Cán bộ Vườn quốc gia Côn Đảo cho biết, vào đêm 6.6.2018, tại hòn Bảy Cạnh có một rùa mẹ lên bờ đẻ, các kiểm lâm phát hiện con rùa này mang quốc tịch Indonesia thông qua số thẻ trên vây. Nói về điều này, ông Lê Xuân Ái đưa ra hai giả thuyết: Thứ nhất, dựa vào đặc tính trở về nơi ra đi từ lúc còn nhỏ của rùa, có thể con rùa này xuất phát từ Côn Đảo, khi đến Indonesia mới được đeo thẻ. Thứ hai, có thể là môi trường sống, bãi đẻ ở Indonesia đã bị xâm hại khiến cho rùa phải tìm nơi mới. Còn lãnh đạo Vườn quốc gia Côn Đảo cho biết, sẽ cho người làm việc với phía Indonesia để tìm hiểu rõ hơn, tất cả chỉ nhằm ghi nhận thêm dữ liệu để công tác bảo tồn được tốt hơn.

Đã bảo tồn được rùa, vậy rùa Côn Đảo sẽ đi đâu? Câu hỏi ấy quẩn quanh mãi trong suy nghĩ của ban lãnh đạo Vườn quốc gia Côn Đảo. Và họ đã xây dựng dự án theo dõi đường di cư của rùa Côn Đảo và được các tổ chức, chuyên gia quốc tế hỗ trợ máy theo dõi qua vệ tinh vào năm 2006. Trong năm này, có 4 lần đeo máy cho 4 cá thể rùa. Ông Ái kể: “Họ dựa vào đặc tính của rùa là vài tiếng đồng hồ sẽ nổi lên mặt nước để hít thở không khí, nên gắn máy theo dõi lên mai rùa bằng loại keo đặc biệt. Mỗi lần rùa trồi lên hít thở, tín hiệu được truyền về trung tâm ghi nhận dữ liệu của họ, rồi họ gửi số liệu ấy cho mình. Nhờ đó mới biết khả năng di cư rất xa của rùa biển tại Côn Đảo, có khi đến tận đảo Palawan của Philippines với chiều dài lên đến 1.449km. Hơn nữa, đường đi của rùa gần như chỉ là một đường thẳng nhờ khả năng cảm nhận đặc biệt từ tính để định hướng đi rất tuyệt vời”.

Sau khi có được số liệu từ các chuyên gia, tổ chức rùa biển hỗ trợ cung cấp. Vài năm sau, ông Ái ra Hà Nội báo cáo và đã hài hước rằng: “Ở Côn Đảo, có một loại cư dân có thể tự do đi du lịch nước ngoài mà không cần đến hộ chiếu, thị thực”. Dừng một lát trong cái tò mò của mọi người, ông Ái tiếp tục: “Đó chính là rùa biển”. Cả phòng họp vỡ òa ra. Cùng với gắn máy theo dõi, là gắn thẻ vào hai vây trước của rùa. Việc này chỉ đơn thuần là để dễ dàng theo dõi, nghiên cứu các đặc điểm sinh học của rùa biển nhằm chia sẻ kinh nghiệm, kêu gọi tài trợ nghiên cứu, chứ không ngờ rằng những dữ liệu thu về cho thấy phạm vi hoạt động của rùa biển rất rộng, vượt phạm vi quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc các nước trong khu vực phải chung tay nhau bảo vệ rùa biển, chứ không thể mạnh ai nấy làm. Và trên thực tế, Việt Nam và các nước trong khu vực đã có nhiều ký kết, biên bản, ghi nhớ về chung tay bảo vệ rùa biển.

Bài 2: Đỡ đẻ cho… rùa