Facebook Linkedin Mail Spotify Website
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Search
  • Giới thiệu
  • Cảm ơn
  • Bản quyền
  • Liên hệ
  • Podcast
Sign in
Welcome! Log into your account
Forgot your password? Get help
Password recovery
Recover your password
A password will be e-mailed to you.
ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Home Videos Page 5

Videos

Random
  • Latest
  • Featured posts
  • Most popular
  • 7 days popular
  • By review score
  • Random

Sạt lở nghiêm trọng trên tuyến đê biển Bạc Liêu

Khẩn trương chuyển toàn bộ cá thể gấu tại Quảng Ninh về Tam Đảo

Bồi lắng Hồ Ba Bể

Thương vong tăng trong vụ vỡ đập ở Brazil

Kiểm lâm Vườn quốc gia Cát Tiên kể giây phút bị nhóm săn trộm chém trọng thương

Rét hại chưa qua, người dân miền Bắc lại phải đón...

Động vật hoang dã ở nông thôn

Đừng tặng những món quà biếu tàn nhẫn

Mê Kông: Thủy điện trên cao – Người dân dưới thấp

Bệnh nhân ồ ạt nhập viện vì ô nhiễm không khí

Lan tỏa hành động bảo vệ động vật hoang dã đến...

Công cụ đánh giá tác động môi trường trong vai trò...

Tràn hồ chứa bùn thải quặng ở Lào Cai, nhiều nhà...

Ý kiến về việc xây dựng tòa nhà trên đèo Mã...

Brazil Bão lũ nghiêm trọng, hàng vạn người phải sơ tán

1...456...86Page 5 of 86
Rừng Xanh Lên

Nghe Podcast

Mới cập nhật

  • ThienNhien.Net hẹn ngày trở lại
  • Thúc đẩy vai trò Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học
  • Bảo tồn đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc
  • Cơ chế thí điểm OECM: Chờ đợi thêm bao lâu?
  • Bão số 10 gây thiệt hại nặng nề và nỗi đau mất mát

Trên Facebook

ThienNhien.Net

16 giờ trước

ThienNhien.Net
CARBON DƯỚI LỚP BÙNMột khu rừng ngập mặn có thể khiến chúng ta chú ý đến những thân cây, tán lá hay bộ rễ chằng chịt nổi trên mặt bùn. Nhưng kho carbon phần lớn lại nằm ở phần không nhìn thấy: trong đất và những lớp trầm tích phía dưới. Ở các hệ sinh thái carbon xanh dương ven biển, khoảng 50–99% lượng carbon có thể được lưu giữ dưới mặt đất.Carbon bắt đầu được đưa vào hệ sinh thái khi thực vật quang hợp, sử dụng CO₂ để tạo nên thân, lá, rễ và các mô sống. Khi cây rụng lá, rễ già đi hay sinh vật chết, một phần vật chất hữu cơ bị phân hủy, nhưng một phần khác được vùi xuống bùn. Dòng nước và thủy triều cũng mang thêm vật chất hữu cơ từ những nơi khác đến. Qua thời gian, những lớp trầm tích mới tiếp tục phủ lên trên, đưa carbon xuống sâu hơn.Môi trường ngập nước tạo ra một điều kiện đặc biệt cho quá trình này. Oxy khó xâm nhập sâu vào lớp bùn, hoạt động phân hủy của vi sinh vật vì thế thường chậm hơn so với trong những lớp đất thông thoáng. Carbon hữu cơ có thể được giữ lại qua hàng trăm năm, thậm chí lâu hơn trong một số lớp trầm tích sâu. Chính khả năng liên tục chôn vùi và bảo quản vật chất hữu cơ khiến rừng ngập mặn, đầm lầy ngập triều và thảm cỏ biển trở thành những kho carbon có giá trị đặc biệt.Ở đây cần phân biệt hai khái niệm. Lượng carbon lưu trữ là tổng lượng carbon đã tích lũy trong cây, rễ, đất và trầm tích tại một thời điểm. Khả năng hấp thụ carbon lại nói đến lượng carbon mới được hệ sinh thái tiếp tục thu nhận và lưu giữ theo thời gian. Một khu rừng ngập mặn lâu năm vì vậy có thể chứa một kho carbon rất lớn, dù lượng carbon tăng thêm mỗi năm không nhất thiết cũng lớn tương ứng.Điều này cũng lý giải vì sao bảo vệ những hệ sinh thái còn nguyên vẹn đặc biệt quan trọng. Khi rừng ngập mặn bị chuyển thành ao nuôi thủy sản, thảm cỏ biển bị phá hủy hoặc trầm tích bị đào xới và tiếp xúc nhiều hơn với oxy, vật chất hữu cơ vốn được bảo quản trong đất có thể phân hủy nhanh hơn. Một phần carbon tích lũy qua thời gian sẽ được giải phóng trở lại dưới dạng CO₂ hoặc các dạng carbon khác. IPCC vì thế tính đến cả phát thải từ sinh khối và carbon trong đất khi đánh giá việc chuyển đổi các vùng đất ngập nước ven biển.Bùn dưới một khu rừng ngập mặn vì thế không chỉ là nền đất cho cây mọc. Nó giống như một kho lưu trữ được thiên nhiên bồi đắp từng lớp qua thời gian. Bảo vệ carbon xanh dương không chỉ là giúp cây tiếp tục hấp thụ CO₂, mà còn là giữ nguyên những kho carbon đã được tích lũy từ rất lâu và tránh giải phóng chúng trở lại môi trường.Và khi muốn biết một khu rừng ngập mặn hay một thảm cỏ biển thực sự chứa bao nhiêu carbon, mọi chuyện bắt đầu khó hơn nhiều: phải lấy mẫu đất, xác định độ sâu, mật độ, hàm lượng carbon và hiểu cả lịch sử của lớp trầm tích đó. Đây cũng là một trong những thách thức lớn khi muốn biến tiềm năng carbon xanh dương thành một giá trị có thể đo đếm và tạo nguồn tài chính cho bảo tồn.#carbonxanhduong #rungngapman #cobien #bienvavenbien #khihau #BaoTonThienNhien #taichinhthiennhien ...

Photo

Xem trên Facebook (opens in a new tab)
· Chia sẻ

Share on Facebook (opens in a new tab) Share on Twitter (opens in a new tab) Share on LinkedIn (opens in a new tab) Share by Email (opens in a new tab)

ThienNhien.Net

2 ngày trước

ThienNhien.Net
CARBON XANH DƯƠNGRừng trên cạn là một trong những kho carbon lớn của Trái đất, nhưng thiên nhiên còn cất giữ một lượng carbon đáng kể ở những vùng tiếp giáp giữa đất liền và biển. Cây hấp thụ CO₂ từ khí quyển qua quang hợp, biến carbon thành thân, cành, lá và rễ. Nhưng dọc các bờ biển còn có những kho carbon đặc biệt khác. Carbon được cây cối và các hệ sinh thái ven biển hấp thụ rồi lưu giữ trong sinh khối, đất và trầm tích được gọi là carbon xanh dương (blue carbon).Ba hệ sinh thái được nghiên cứu và thừa nhận trong khoa học về carbon xanh dương hiện nay là rừng ngập mặn, đầm lầy ngập triều và thảm cỏ biển. Chúng chỉ chiếm những dải tương đối hẹp giữa đất liền và biển, nhưng lại có khả năng tích lũy một lượng carbon đáng kể, đồng thời bảo vệ bờ biển, tạo nơi sinh sản và cư trú cho nhiều loài thủy sinh, duy trì nguồn lợi và sinh kế của cộng đồng ven biển.Điều thú vị là phần dễ nhìn thấy chưa chắc đã là phần quan trọng nhất. Trong một khu rừng ngập mặn, chúng ta nhìn thấy thân cây, tán lá và bộ rễ nổi trên bùn. Trong một thảm cỏ biển, chúng ta nhìn thấy những chiếc lá lay động dưới nước. Nhưng phần lớn carbon của các hệ sinh thái này có thể nằm dưới mặt đất, trong rễ, vật chất hữu cơ và những lớp trầm tích tích tụ qua thời gian. Với các hệ sinh thái carbon xanh dương ven biển, khoảng 50–99% lượng carbon lưu giữ có thể nằm trong đất và trầm tích.Nước và bùn tạo nên một điều kiện rất khác với đất rừng thông thường. Lá, rễ và các vật chất hữu cơ sau khi chết bị vùi xuống lớp trầm tích ngập nước, nơi thiếu oxy làm quá trình phân hủy diễn ra chậm hơn. Carbon vì vậy có thể tiếp tục tích tụ qua nhiều thế hệ cây cỏ và được giữ lại trong thời gian rất dài. Đó là lý do một bãi rừng ngập mặn hay một thảm cỏ biển không chỉ đang hấp thụ carbon hôm nay, mà còn có thể chứa cả lượng carbon được tích lũy từ rất lâu trước đó.Tuy nhiên, không nên hiểu carbon xanh dương đơn giản là “carbon có ở biển”. Đại dương tham gia vào chu trình carbon toàn cầu theo rất nhiều cơ chế, nhưng khi nói đến carbon xanh dương có thể quản lý thông qua bảo tồn và phục hồi, người ta hiện tập trung nhiều nhất vào các hệ sinh thái ven biển có thực vật như rừng ngập mặn, cỏ biển và đầm lầy ngập triều. Những hệ sinh thái khác như rong biển, vùng biển khơi hay rạn san hô có vai trò sinh thái rất lớn, nhưng việc xác định và hạch toán carbon của chúng phức tạp hơn.Carbon xanh dương được quan tâm không chỉ bởi khả năng hấp thụ CO₂. Khi một khu rừng ngập mặn bị phá, thảm cỏ biển bị mất hay lớp trầm tích bị đào xới, một phần kho carbon tích lũy lâu năm có thể bị phân hủy và quay trở lại khí quyển hoặc đại dương. Vì thế, giữ lại carbon đã được thiên nhiên cất giữ cũng quan trọng không kém việc hấp thụ thêm carbon mới.Việt Nam chúng ta có đường bờ biển dài, nhiều vùng cửa sông, rừng ngập mặn, bãi triều và thảm cỏ biển. Điều đó mở ra một tiềm năng đáng kể về carbon xanh dương. Nhưng từ một hệ sinh thái có khả năng lưu giữ carbon đến việc đo được chính xác nó chứa bao nhiêu, bảo vệ được bao lâu, và xa hơn nữa là biến giá trị ấy thành nguồn tài chính cho thiên nhiên, còn là một khoảng cách khá dài.Đó cũng là câu chuyện chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu.#BlueCarbon #CarbonXanhDuong #RungNgapMan #CoBien #BienVaVenBien #KhiHau #TaiChinhThienNhien ...

Photo

Xem trên Facebook (opens in a new tab)
· Chia sẻ

Share on Facebook (opens in a new tab) Share on Twitter (opens in a new tab) Share on LinkedIn (opens in a new tab) Share by Email (opens in a new tab)

ThienNhien.Net

3 ngày trước

ThienNhien.Net
HẢI VÂN QUAN, NƠI NÚI BIỂN GẶP LỊCH SỬCó những vùng đất mà vẻ đẹp của núi non, sông biển luôn đi cùng chiều sâu của lịch sử. Mỗi con đèo, mỗi cửa ải, mỗi dải bờ biển không chỉ tạo nên một cảnh quan đặc sắc, mà còn lưu giữ dấu vết của những bước chân mở cõi và những năm tháng bảo vệ đất nước. Hải Vân Quan là một nơi như vậy. Nằm trên đỉnh đèo Hải Vân ở độ cao khoảng 490 mét, giữa Huế và Đà Nẵng, nơi đây nhìn xuống một bên là biển Đông xanh thẳm, một bên là những dãy núi của hệ Bạch Mã nối dài ra sát biển. Mây thường phủ ngang sườn núi, cũng từ cảnh tượng ấy mà cái tên Hải Vân, nghĩa là “mây biển”, trở nên thật đẹp và đúng với cảnh quan nơi này.Địa thế hiểm trở ấy cũng khiến Hải Vân trở thành một vị trí đặc biệt trong lịch sử. Năm 1306, cuộc hôn nhân giữa Công chúa Huyền Trân của Đại Việt và vua Chế Mân của Champa gắn với việc hai châu Ô và Lý được sáp nhập vào Đại Việt. Từ đó, khu vực Hải Vân dần trở thành một dấu mốc quan trọng trên con đường mở rộng lãnh thổ về phương Nam. Qua nhiều thế kỷ, con đèo vừa là ranh giới tự nhiên, vừa là tuyến giao thông chiến lược nối Thuận Hóa với vùng đất Quảng Nam và xa hơn nữa.Đến năm 1826, vua Minh Mạng cho xây dựng Hải Vân Quan thành một cụm phòng thủ kiên cố nhằm bảo vệ cửa ngõ phía nam của Kinh đô Huế. Công trình gồm hai cửa vòm, trú sở, vũ khố cùng hệ thống thành lũy và các vị trí bố trí hỏa lực. Một phía cổng đề ba chữ “Hải Vân Quan”, phía kia là danh xưng nổi tiếng “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Vị trí quân sự của nơi này tiếp tục được nhận ra trong các giai đoạn lịch sử sau đó, khi người Pháp rồi quân đội Mỹ cũng sử dụng khu vực đỉnh đèo cho mục đích phòng thủ. Năm 2017, Hải Vân Quan được xếp hạng Di tích quốc gia và sau quá trình trùng tu, di tích được mở cửa trở lại từ tháng 8/2024.Nhưng Hải Vân còn đặc biệt bởi chính thiên nhiên đã tạo nên vị thế lịch sử ấy. Dãy núi cao đột ngột vươn ra sát biển tạo thành một bức thành tự nhiên, chia tách tương đối hai vùng khí hậu và buộc con đường Bắc Nam trong nhiều thế kỷ phải vượt qua một hành lang hẹp, hiểm trở. Đứng trên Hải Vân Quan hôm nay, nhìn về vịnh Lăng Cô ở phía bắc và biển Đà Nẵng ở phía nam, chúng ta có thể hiểu phần nào vì sao núi, biển và địa hình từng có ảnh hưởng lớn đến cách con người mở đường, lập làng, tổ chức lãnh thổ và phòng thủ đất nước.Bởi vậy, giá trị của Hải Vân không nằm riêng trong một cửa ải cổ, cũng không chỉ ở một cung đèo đẹp. Cảnh quan và lịch sử ở đây thực ra là hai lớp của cùng một câu chuyện. Thiên nhiên tạo nên một cửa ngõ, lịch sử biến cửa ngõ ấy thành nơi chứng kiến bước chân của bao thế hệ trên con đường mở cõi và giữ nước. Giữ gìn Hải Vân vì thế cũng cần nhìn rộng hơn việc bảo tồn một công trình kiến trúc. Đó còn là gìn giữ núi rừng, cảnh quan và không gian tự nhiên đã làm nên ý nghĩa của di tích suốt hàng trăm năm.Ký họa của KTS Nguyễn Đức Cường.#HaiVanQuan #DeoHaiVan #ThienHaDeNhatHungQuan #DiSanVietNam #LichSuVietNam #CanhQuanThienNhien #BaoTonDiSan #ThienNhienNet ...

Photo

Xem trên Facebook (opens in a new tab)
· Chia sẻ

Share on Facebook (opens in a new tab) Share on Twitter (opens in a new tab) Share on LinkedIn (opens in a new tab) Share by Email (opens in a new tab)

ThienNhien.Net

4 ngày trước

ThienNhien.Net
NƯỚC CŨNG CÓ PHÓNG XẠNhắc đến phóng xạ trong nước có thể mọi người sẽ nghĩ ngay đến nhà máy điện hạt nhân hay một sự cố nào đó. Nhưng nước hoàn toàn có thể mang các chất phóng xạ dù chưa từng đi qua bất kỳ nguồn ô nhiễm nhân tạo nào. Khi nước mưa thấm xuống đất rồi chảy qua các lớp đá, nó có thể hòa tan một lượng rất nhỏ uranium và những nguyên tố hình thành trong chuỗi phân rã tự nhiên của uranium, thorium. Bởi vậy, uranium-238, uranium-234, radium-226, radium-228, lead-210 hay polonium-210 đều có thể được tìm thấy trong nước với những mức độ khác nhau.Câu chuyện có thể bắt đầu từ uranium, nguyên tố vốn hiện diện tự nhiên trong nhiều loại đất đá. Uranium phân rã qua một chuỗi dài các đồng vị để cuối cùng trở thành chì bền; trên đường đi ấy xuất hiện radium rồi radon. Cả uranium, radium và radon đều có thể đi vào nước. Nước ngầm thường đáng chú ý hơn nước mặt bởi thời gian tiếp xúc với đất đá dài hơn và trong một số điều kiện địa chất, các chất này có thể được hòa tan hoặc giải phóng vào tầng chứa nước.Đo phóng xạ trong nước cũng khác với đo một chất hóa học thông thường. Các nhà khoa học thường sử dụng đơn vị becquerel, viết tắt Bq. Một becquerel nghĩa là có một phân rã phóng xạ xảy ra trong một giây. Nhưng cùng một số Bq không có nghĩa là gây ra cùng một liều bức xạ cho cơ thể, bởi điều đó còn phụ thuộc vào đồng vị nào đang phân rã, loại bức xạ phát ra và cách cơ thể tiếp xúc với nó. Vì vậy, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thường khuyến nghị sàng lọc trước bằng tổng hoạt độ alpha và beta, sau đó mới xác định từng đồng vị nếu kết quả cho thấy cần khảo sát sâu hơn.Riêng uranium còn có một điều khá bất ngờ: đối với nước uống, độc tính hóa học đối với thận thường đáng quan tâm hơn chính tính phóng xạ của nó. WHO đưa ra giá trị hướng dẫn tạm thời 30 microgam uranium trên một lít nước dựa trên độc tính hóa học. Đây là một ví dụ thú vị cho thấy một nguyên tố phóng xạ không nhất thiết chỉ được đánh giá bằng nguy cơ bức xạ.Radon lại hành xử theo cách khác. Đây là một khí phóng xạ nên khi có trong nước ngầm, nó có thể thoát khỏi nước khi chúng ta mở vòi, tắm hoặc khuấy nước. WHO cho biết, xét trung bình, phần lớn liều liên quan đến radon trong nước uống đến từ hít phải radon thoát vào không khí hơn là từ việc uống chính lượng nước đó. Tuy vậy, nguồn radon trong nhà quan trọng nhất thường vẫn là đất và vật liệu xây dựng bên dưới công trình, chứ không phải nước máy.Việt Nam cũng không nằm ngoài câu chuyện địa chất này. Một nghiên cứu công bố năm 2021 đã đo radium-226, radium-228 và uranium-238 trong nước giếng quanh tám khu vực có phông phóng xạ tự nhiên cao ở miền Bắc. Kết quả cho thấy hoạt độ các đồng vị biến thiên rất lớn giữa các khu vực, phản ánh sự khác biệt về địa chất và nguồn nước. Những nghiên cứu như vậy đặc biệt có ý nghĩa ở các vùng có khoáng hóa uranium, đất hiếm hoặc phông bức xạ tự nhiên cao, nơi nước ngầm cần được xem xét không chỉ về vi sinh hay hóa chất thông thường mà cả về mặt phóng xạ.Dẫu vậy, chỉ nghe đến chữ “phóng xạ” không nên khiến chúng ta mặc định rằng nước đang nguy hiểm. WHO lưu ý rằng trong phần lớn trường hợp, liều bức xạ do các đồng vị trong nước uống nhỏ hơn nhiều so với tổng phơi nhiễm bức xạ mà con người nhận từ các nguồn tự nhiên khác. Điều cần biết vẫn giống như với fluoride, asen hay nitrate trong những bài trước: chất gì đang có mặt, ở mức bao nhiêu và con người tiếp xúc với nó như thế nào. Một cốc nước trong veo có thể mang dấu vết của những quá trình phóng xạ đã diễn ra trong lòng đất từ rất lâu trước khi con người xuất hiện.#Nuoc #PhongXaTuNhien #Radon #Radium #Uranium #NuocNgam #ChatLuongNuoc #KhoaHocMoiTruong #PanNature ...

Photo

Xem trên Facebook (opens in a new tab)
· Chia sẻ

Share on Facebook (opens in a new tab) Share on Twitter (opens in a new tab) Share on LinkedIn (opens in a new tab) Share by Email (opens in a new tab)

ThienNhien.Net

5 ngày trước

ThienNhien.Net
PHÍA SAU MÙI CLOTrong một nhà máy nước, clo được đưa vào không phải để làm nước trong hơn mà để xử lý phần nguy hiểm mắt thường không nhìn thấy: vi khuẩn, virus và nhiều vi sinh vật có thể gây bệnh. Khi hòa vào nước, clo tạo ra các dạng có khả năng oxy hóa mạnh, đặc biệt là acid hypochlorous, giúp bất hoạt vi sinh vật. Một lượng clo dư nhỏ thường được duy trì khi nước đi vào mạng lưới đường ống để tiếp tục bảo vệ nước trên đường đến vòi của các gia đình. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết nước uống đã khử trùng thường có clo ở khoảng 0,2–1 mg/L, thấp hơn nhiều so với giá trị hướng dẫn sức khỏe 5 mg/L.Nhưng phản ứng hóa học không dừng lại sau khi vi sinh vật bị tiêu diệt. Nước sông, hồ hay hồ chứa luôn mang theo một lượng vật chất hữu cơ tự nhiên sinh ra từ đất, lá cây, tảo và xác sinh vật phân hủy. Khi clo gặp những hợp chất hữu cơ ấy, hàng loạt chất mới có thể hình thành. Chúng được gọi chung là sản phẩm phụ của quá trình khử trùng, hay DBPs (disinfection by-products). Hai nhóm được quan tâm và theo dõi nhiều nhất trong nước khử trùng bằng clo là trihalomethanes (THMs) và haloacetic acids (HAAs).Tên gọi nghe khá xa lạ, nhưng phản ứng tạo ra chúng lại diễn ra trong một hệ thống cấp nước hết sức bình thường. Hàm lượng chất hữu cơ trong nước nguồn càng lớn, điều kiện phản ứng càng thuận lợi thì khả năng hình thành DBPs càng đáng chú ý; bromide có sẵn trong nước còn có thể tham gia tạo nên các hợp chất chứa brom. Chloroform – một chất nhiều người từng nghe tên – chính là thành viên phổ biến của nhóm THMs trong nước được khử trùng bằng clo.Sự hiện diện của DBPs đặt ngành cấp nước trước một bài toán thú vị. Khử trùng quá yếu có thể để lại nguy cơ tức thời từ mầm bệnh; nhưng quá trình xử lý và vận hành cũng cần hạn chế sự hình thành những sản phẩm phụ không mong muốn. Một số DBPs được quan tâm vì phơi nhiễm ở mức cao trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ đối với sức khỏe. Vì vậy, các hệ thống quản lý nước uống không chỉ kiểm soát clo mà còn theo dõi những nhóm như THMs và HAAs. Chẳng hạn, quy định của Hoa Kỳ đặt giới hạn đối với tổng THMs và năm loại HAA thường gặp trong nước cấp.Cách giải quyết không phải là đơn giản bỏ clo ra khỏi quy trình. Các nhà máy có thể giảm lượng vật chất hữu cơ trước khi khử trùng, tối ưu liều clo, thời gian tiếp xúc, vị trí châm hóa chất và điều kiện vận hành mạng lưới; một số hệ thống còn sử dụng những phương pháp khử trùng hoặc chất khử trùng khác ở từng công đoạn. WHO nhấn mạnh một nguyên tắc: việc giảm các sản phẩm phụ không được đánh đổi bằng hiệu quả khử trùng. Nguy cơ vi sinh vật trong nước vẫn phải được kiểm soát trước tiên.Vì thế, đôi khi ngửi thấy một chút mùi clo trong nước máy không có nghĩa là nước đang chứa quá nhiều hóa chất, cũng như nước hoàn toàn không có mùi chưa chắc đã tốt hơn. Phía sau một cốc nước từ vòi là cả một bài toán hóa học làm sao đủ chất khử trùng để ngăn mầm bệnh, nhưng đồng thời phải kiểm soát những phản ứng mà chính quá trình khử trùng có thể tạo ra. Nước sạch hóa ra không phải là nước không có hóa chất. Đó là nước mà các rủi ro hóa học và sinh học đều được hiểu, kiểm soát và giữ ở mức an toàn.#nuoc #clo #khutrungnuoc #ChatLuongNuoc #hoahocnuoc #suckhoemoitruong #PanNature ...

Photo

Xem trên Facebook (opens in a new tab)
· Chia sẻ

Share on Facebook (opens in a new tab) Share on Twitter (opens in a new tab) Share on LinkedIn (opens in a new tab) Share by Email (opens in a new tab)

Trên YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=hXH3ulZGzSo

Chủ đề nổi bật

BBĐVHD biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu BĐKH bảo vệ môi trường Bảo vệ rừng bệnh truyền nhiễm cháy rừng corona Covid-19 cơ hội việc làm Dịch bệnh Hà Nội Hạn hán Hổ Khai thác khoáng sản khoáng sản khu công nghiệp lũ lụt Mê Kông Mưa bão Mưa lũ Mỹ Nghệ An ngà voi phá rừng plastic Quảng Nam rác thải nhựa SARS-CoV-2 sạt lở thiên tai Thủy điện Trung Quốc Trung Quốc vaccine xả thải Ô nhiễm không khí Ô nhiễm môi trường ô nhiễm ĐBSCL ĐVHD đa dạng sinh học đại dịch động vật hoang dã
Giấy phép số 243/GP-TTĐT do Cục PT, TH và TTĐT cấp ngày 11/10/2024
Trụ sở: NV31, Khu đô thị Trung Văn, p. Trung Văn, q. Nam Từ Liêm, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 Fax: 024 3556-8941 Email: bbt@nature.org.vn
Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Chịu trách nhiệm xuất bản: Trịnh Lê Nguyên Phụ trách biên tập: Phan Bích Hường
Thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn.
Facebook Linkedin Mail Spotify Website
© Trung tâm Con người và Thiên nhiên - 2026