Bàn về Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé

Đăng ngày

Sau các hội thảo về Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé (CLCB) tại Cần Thơ, TPHCM và Kiên Giang, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến phản biện về hiệu quả của dự án này. Báo Cần Thơ ghi nhận một số nội dung chính xoay quanh dự án này.

Tóm tắt dự án

Dự án thủy lợi CLCB được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư giai đoạn 1 ngày 17-4-2017, dựa theo tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) ngày 5-4-2017. Công trình do Ban Quản lý đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10 – thuộc Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư. Đơn vị tư vấn lập báo cáo đầu tư dự án là Liên danh Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam – Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam – Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Thủy lợi 2. Cơ quan lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường là Viện Kỹ thuật Biển, Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam. Dự án là sự kế thừa của các đề tài nghiên cứu từ năm 2000 và dự án được lập từ năm 2010 đến nay.

Một cống ở Phụng Hiệp (Hậu Giang) đã xây 2 năm nhưng chưa hề được sử dụng. (Ảnh chụp ngày 12-7-2018). Ảnh: LÊ ANH TUẤN

Dự án nằm chủ yếu ở vùng Bán đảo Cà Mau; phía bắc là kênh Cái Sắn, phía Nam và Đông Nam là kênh Quản lộ-Phụng Hiệp, phía Đông Bắc là sông Hậu và phía Tây là Vịnh Thái Lan. Tổng diện tích đất tự nhiên vùng dự án là 909.248 ha thuộc Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và TP Cần Thơ.

Dự án CLCB giai đoạn này có 4 mục tiêu: Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông CLCB, đồng thời góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang; Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định; Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn; Kết hợp phát triển giao thông thủy bộ trong vùng dự án.

Về công trình của dự án giai đoạn này, có cụm công trình cống CLCB (với cống Cái Lớn, cống Cái Bé, tuyến đê nối 2 cống và quốc lộ 63 kèm các cống dưới đê, tuyến kênh nối 2 sông CLCB); công trình nạo vét kênh Thốt Nốt và kênh KH6; sửa chữa cống, âu Tắc Thủ; cụm công trình bờ Đông kênh Chắc Băng và sông Trẹm; xây cống Lương Thế Trân, cống Ông Đốc,; cống Xẻo Rô, cống Ngọn Tắc Thủ và Trạm bơm Tắc Thủ. Dự kiến vốn cho giai đoạn 1 của dự án là 3.309,5 tỉ đồng.

Vị trí dự án thủy lợi CLCB ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Ý kiến phản biện

Theo Giáo sư Tiến sĩ (GS TS) Nguyễn Ngọc Trân, nguyên chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL, trước tiên dự án này phải được điều chỉnh theo tinh thần Nghị quyết 120/CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, ban hành ngày 17-11-2017. Ông đề nghị: “Chúng tôi cho rằng các bước phê duyệt dự án CLCB phải tuân thủ nghiêm túc Luật Đầu tư công và Nghị quyết 120 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Đó là, mọi dự án công trình phải được tính toán thật kỹ, được phản biện khách quan, khoa học bảo đảm không hối tiếc đầu tư; và trước khi chọn một giải pháp công trình, phải tính toán cán cân được – mất  trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường”.

Riêng nhóm chuyên gia ở Trường Đại học Cần Thơ là Phó GS TS Lê Anh Tuấn, TS Dương Văn Ni, TS Nguyễn Hồng Tín, TS Đặng Kiều Nhân và chuyên gia độc lập về sinh thái, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, đã công bố báo cáo phản biện 37 trang: “Đánh giá các hệ thống mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và Dự án Thủy lợi sông CLCB. Theo TS Dương Văn Ni, có thể tóm tắt:

Về mục tiêu kiểm soát nguồn nước mặn, phải trả lời được 2 câu hỏi: Nguồn nước mặn nào? Tại sao phải kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển? Vì ở ĐBSCL không có nhánh sông tự nhiên nào từ sông Hậu chảy ra biển Tây. Đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp mà do phù sa từ phía biển bồi tụ; trong đất có muối. Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối trong đất bị mao dẫn lên mặt đất; vào mùa mưa, nước mưa hòa tan muối và đổ vào sông rạch. Như vậy là có hai nguồn nước mặn: nước mặn từ phía biển và nước mặn hình thành tại chỗ. Vậy mục tiêu của dự án chỉ kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển (xây cống) liệu có đúng?

Ở vùng bán đảo Cà Mau, mỗi năm lượng nước mưa >2.000mm và người dân biết tận dụng nước mưa rửa mặn lớp đất mặt (20-30 cm) để trồng lúa hoặc lên liếp, sau vài năm hết mặn trồng rau màu hay cây ăn trái. Cũng vì đất được phù sa bồi lắng trong môi trường nước mặn hoặc lợ nên trong đất hình thành vật liệu sinh phèn, gọi là đất phèn tiềm tàng. Ở môi trường yếm khí thì vô hại, nhưng nếu tiếp xúc với không khí thì bị oxy hóa, sinh ra phèn làm nước và đất rất chua, cây trồng và vật nuôi không sống được. Tại các vùng này, người dân đã biết cách đưa nước mặn vào ruộng vừa để “ém phèn”, vừa để khai thác thủy sản tự nhiên như cá kèo, cá đối, cua, tép bạc và nuôi tôm sú. Vậy kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển thì ảnh hưởng nguồn lợi thủy sản này ra sao? Nếu không cho nước mặn vào thì phải có nguồn nước khác thay thế để ém phèn. Nguồn nước ngọt từ sông Hậu thì chảy không tới nên chỉ còn nước mưa, vậy nếu hạn hán xảy ra thì lấy nguồn nước nào để ém phèn?

Vị trí dự án thủy lợi CLCB ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Về mục tiêu giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng thuộc lưu vực sông CLCB. Theo đề cương dự án thì đó là mâu thuẫn mặn – ngọt. Nhưng thực tế ở đây, nơi nào đất gò hơn thì bà con xẻ mương phèn trồng lúa do dễ tiêu thoát nước còn nơi nào đất trũng thấp (đất láng) thì bao vuông nuôi tôm sú, nên đất nông nghiệp xen kẽ với đất nuôi trồng thủy sản. Cách sử dụng nước là nếu cần bơm nước ngọt cho lúa thì người dân chọn lúc nước ròng và nếu cần bơm nước mặn cho tôm thì người ta chọn lúc nước lớn. Có mâu thuẫn gì đâu? Trong thời gian qua có xảy ra xung đột là do các hộ nuôi tôm thâm canh giữ nước mặn quanh năm, nên lúc xung quanh người ta trồng lúa thì họ vẫn giữ mặn và làm mặn xì ra ảnh hưởng đất nông nghiệp xung quanh. Nếu giữ cách canh tác truyền thống là trên cùng một thửa ruộng, mùa nắng thì lấy nước mặn vào nuôi tôm, mùa mưa xổ mặn xong trồng lúa (mô hình lúa-tôm), tức là người dân biết cách canh tác theo mặn-ngọt ngay trên cùng một thửa ruộng và cả xóm làng làm nhịp nhàng hết vụ lúa đến vụ tôm nên mấy chục năm qua thì không có mâu thuẫn gì. Bây giờ kiểm soát mặn trên sông rạch để giữ nước ngọt nhiều hơn, liệu người dân có đồng thuận?

Bài học về việc người dân đòi phá bỏ cống Láng Trâm (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau) để có đủ nguồn nước mặn cho nuôi trồng thủy sản vẫn còn nguyên giá trị.

Về mục tiêu góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang. Thủy sản này là nuôi trồng hay đánh bắt tự nhiên? Năng suất thủy sản nuôi trồng của khu vực này là rất thấp so với thủy sản đánh bắt tự nhiên trên sông rạch và vùng biển tiếp giáp. Trong đó có rất nhiều loài thủy sản sử dụng sông rạch như là bãi đẻ và vùng biển tiếp giáp là bãi ăn, và nhiều loài thì sử dụng ngược lại. Vì vậy lúc nước lớn là lúc nhiều loài thủy sản từ biển vào sông rạch để sinh sôi và kiếm ăn. Vậy việc đóng cống lúc này sẽ làm ảnh hưởng ra sao?

Với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn ngọt cho vùng ven biển. Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn-phèn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loãng độ mặn-phèn này không? Rồi rửa lượng mặn – phèn này đi đâu? Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ, chưa chắc có đủ nước ngọt để bơm. Nếu có, chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau. Những tình huống này, trong đề cương của dự án chưa đưa ra được giải pháp.

Nhóm chuyên gia phản biện này khẳng định: “Dự án Thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé sẽ phá hủy tinh thần Nghị quyết 120/CP, Quy hoạch tích hợp ĐBSCL do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chủ trì soạn thảo đến 2020 và Chiến lược nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu do Bộ NN&PTNT soạn thảo nhằm triển khai NQ 120/CP”. Đồng thời đề nghị Bộ NN&PTNT, cơ quan chủ trì dự án, sớm công bố tất cả các tài liệu liên quan về dự án lên cổng thông tin điện tử cho mọi người được tham gia đóng góp ý kiến.

Hệ thống cống đập trên quốc lộ 1 (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau), vận hành theo cách đóng cống lúc nước lớn và mở cống lúc nước ròng trong mùa khô, đã làm mất sức đẩy nước từ biển Đông sang biển Tây rất nhiều, nên tạo ra những vùng nước không chảy (giáp nước). Do các khu vực đông dân cư, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản… của nơi đây chưa có hệ thống xử lý nước thải, nên đã gây ra ô nhiễm nguồn nước trầm trọng. Bây giờ thêm cống CLCB cũng vận hành như vậy thì sẽ mất luôn sức đẩy của nước từ phía biển Tây, vậy tình trạng ô nhiễm nguồn nước nơi đây sẽ ra sao?

Tốc độ lún sụt hiện nay của khu vực Cà Mau nhanh hơn nơi dự kiến xây cống CLCB, tức là trong tương lai rất gần, vùng Cà Mau sẽ thấp hơn. Vậy làm sao cho nước chảy từ chỗ thấp lên chỗ cao mà gọi là tiêu úng? Rồi có phải xây thêm trạm bơm không?

Vùng Tây Nam sông Hậu đã có ba dự án thủy lợi lớn là Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn – Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Vậy dự án CLCB Bé này sẽ có những tác động tích cực và tiêu cực nào đối với các dự án kia?