Facebook Linkedin Mail Spotify Website
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Search
  • Giới thiệu
  • Cảm ơn
  • Bản quyền
  • Liên hệ
  • Podcast
Sign in
Welcome! Log into your account
Forgot your password? Get help
Password recovery
Recover your password
A password will be e-mailed to you.
ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Tiêu điểm
    • Mê Kông
    • Bảo tồn thiên nhiên
    • Biến đổi khí hậu
    • Buôn bán ĐVHD
    • Năng lượng
  • Tài nguyên
  • Môi trường
  • Khoa học – Công nghệ
  • Chính sách
Home Sống xanh

Sống xanh

Latest
  • Latest
  • Featured posts
  • Most popular
  • 7 days popular
  • By review score
  • Random

Đưa thiên nhiên đến gần cộng đồng

Tìm hiểu về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã

Về nhà – Tour tái thả động vật hoang dã về rừng ở Vườn quốc gia Cúc Phương

Thanh niên mong muốn tham gia công cuộc ứng phó biến đổi khí hậu

Mua sắm đồ đã qua sử dụng là xu hướng, nhưng có còn bền vững?

Công chiếu phim tài liệu về bảo tồn động vật, thiên...

Bỏ tiền triệu mua 1 bộ quần áo, chụp ảnh, rồi...

Những công trình nhà ở sử dụng năng lượng mặt trời

Triển lãm tranh thiếu nhi “Vì môi trường tương lai”

Ra mắt dự án tranh tường nghệ thuật về bảo vệ...

Thời trang bền vững “made in Saigon”

UNESCO phát động chương trình vì đại dương không nhựa

“Đổi sách lấy cây” – Lan tỏa được lối sống xanh...

Bảo vệ tầng ô-dôn từ những điều bình dị nhất

Biết điều này, teen còn tiếp tục nuôi động vật hoang...

123...144Page 1 of 144
Rừng Xanh Lên

Nghe Podcast

Mới cập nhật

  • Thúc đẩy vai trò Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học
  • Bảo tồn đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc
  • Cơ chế thí điểm OECM: Chờ đợi thêm bao lâu?
  • Bão số 10 gây thiệt hại nặng nề và nỗi đau mất mát
  • Bão số 10 gây thiệt hại rất nghiêm trọng khiến 19 người chết, 13 người mất tích

Trên Facebook

ThienNhien.Net

14 giờ trước

ThienNhien.Net
Đừng vội gọi rừng là nghèo!Trong cách nói quen thuộc về rừng ở Việt Nam, cụm từ “rừng nghèo kiệt” thường nghe như một bản án. Đã nghèo, lại còn kiệt. Nó dễ khiến người ta hình dung về một nơi gần như chẳng còn gì đáng giữ, chỉ còn vài cây còi cọc, ít gỗ, ít giá trị.Nhưng với rừng, chữ “nghèo” rất dễ đánh lừa chúng ta.Rừng nghèo kiệt đúng là rừng đã bị tổn thương. Đó có thể là rừng từng bị khai thác nhiều lần, bị chặt chọn cây lớn, bị đốt, bị chăn thả, bị chia cắt, hoặc bị tác động bởi nương rẫy và các hoạt động sinh kế thiếu bền vững. Nó không phải là trạng thái lý tưởng để ca ngợi. Nó là dấu hiệu suy thoái cần được phục hồi.Nhưng suy thoái không có nghĩa là đã chết.Trong quản lý lâm nghiệp, rừng nghèo kiệt thường được nhìn qua các chỉ tiêu như trữ lượng thấp, chất lượng cây kém, tăng trưởng thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Cách nhìn này có lý trong bối cảnh điều tra, kiểm kê và quản lý tài nguyên rừng. Nhưng nếu lấy đó làm chiếc thước duy nhất, chúng ta rất dễ bỏ sót những giá trị sinh thái còn nằm lại bên trong một khu rừng bị suy thoái.Một khu rừng nghèo gỗ vẫn còn thảm mục, nấm, vi sinh vật, rễ cây, hạt giống và khả năng giữ ẩm. Một khu rừng ít cây gỗ lớn vẫn có thể còn cây tái sinh, cây bản địa, bụi rậm, dây leo, côn trùng, chim, thú nhỏ và các loài lưỡng cư ven suối. Một khoảnh rừng trông xấu trong mắt người đo gỗ vẫn có thể là nơi trú ẩn, nguồn hạt giống, vùng đệm hoặc hành lang sinh cảnh quan trọng.Rừng khộp ở Tây Nguyên là kiểu rừng lá rộng rụng lá khô, có cây gỗ thường thưa hơn, tán mở hơn, mùa khô nhiều cây rụng lá, mặt đất có nhiều khoảng trống, bãi cỏ hoặc vũng nước theo mùa. Nếu chỉ nhìn bằng tiêu chí trữ lượng gỗ hoặc độ rậm của tán cây, rừng khộp rất dễ bị đánh giá là “nghèo”, thậm chí “nghèo kiệt”.Nhưng rừng khộp không phải là rừng vô giá trị. Rừng khộp Tây Nguyên có cây gỗ thưa, trữ lượng thấp, thiếu tầng, xuất hiện nhiều khoảng trống, nhưng chính các khoảng trống, bãi cỏ và vũng nước ấy lại là sinh cảnh của nhiều loài thú móng guốc và thú ăn thịt; đây là kiểu rừng đặc trưng, quý hiếm, cần được lưu giữ.Vườn quốc gia Yok Đôn là khu bảo tồn hệ sinh thái rừng khộp tiêu biểu của Việt Nam, với tính đa dạng sinh học cao. Khu vực này ghi nhận hơn 1.000 loài thực vật và khoảng 650 loài động vật, trong đó có các loài nguy cấp, quý hiếm như voi, bò tót và nhiều loài thú móng guốc.Rõ ràng không thể lấy hình ảnh của rừng thường xanh ẩm, rậm rạp, nhiều tầng tán để áp lên mọi kiểu rừng. Có những hệ sinh thái rừng tự nhiên vốn dĩ thưa hơn, khô hơn, thấp hơn, mở hơn. Chúng có vẻ “nghèo” nếu nhìn bằng con mắt đo gỗ, nhưng lại rất giàu về thích nghi sinh thái, lịch sử tiến hóa và giá trị sinh cảnh.Vì vậy, “rừng nghèo kiệt” nên được hiểu như một tín hiệu cảnh báo để phục hồi, chứ không phải giấy khai tử của rừng.Còn đất rừng là còn nền. Còn cây tái sinh là còn tương lai. Còn loài bản địa là còn ký ức sinh thái. Còn kết nối với các mảng rừng khác là còn cơ hội cho động vật trở lại. Còn cộng đồng địa phương muốn giữ rừng là còn một lực lượng bảo vệ quan trọng.Tất nhiên, không phải mọi diện tích rừng nghèo kiệt đều có giá trị và khả năng phục hồi như nhau. Có nơi cần bảo vệ nghiêm ngặt. Có nơi cần khoanh nuôi tái sinh. Có nơi cần trồng bổ sung cây bản địa. Có nơi cần kiểm soát cháy, chăn thả, khai thác củi hoặc loài xâm lấn. Nhưng trong nhiều trường hợp, việc xóa bỏ một khu rừng tự nhiên nghèo kiệt để thay bằng cây trồng đơn loài có thể làm mất đi phần nền sinh thái cuối cùng mà rừng còn giữ được.Rừng nghèo kiệt không phải là rừng khỏe. Nhưng cũng không phải là rừng vô dụng. Đó là phần rừng đang yếu, đang tổn thương, đang cần được bảo vệ, chăm sóc và dẫn dắt phục hồi.Nghèo gỗ chưa chắc nghèo sự sống. Và đôi khi, chính những khu rừng tưởng như nghèo ấy lại là nơi bắt đầu cho một chu kỳ hồi sinh của rừng tự nhiên.Ảnh của báo Dân tộc và Phát triển.#ThienNhienNet #RungVietNam #SinhThaiRung #BaoTonThienNhien #DaDangSinhHoc #HieuDungVeRung ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

2 ngày trước

ThienNhien.Net
Rừng không phải là kho gỗCác bạn chắc hẳn đã từng biết đến những cụm từ như “rừng giàu”, “rừng trung bình”, “rừng nghèo”, “rừng nghèo kiệt”? Nghe qua, các khái niệm này có vẻ rất tự nhiên. Rừng nhiều cây to thì “giàu”, rừng ít cây to thì “nghèo”. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, ta sẽ thấy đằng sau cách gọi ấy là một chiếc thước đo rất cũ: đo rừng chủ yếu bằng trữ lượng gỗ.Theo Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT, rừng gỗ từng được phân loại theo trữ lượng cây đứng: rừng rất giàu là trên 300 m³/ha, rừng giàu từ 201–300 m³/ha, rừng trung bình từ 101–200 m³/ha, rừng nghèo từ 10–100 m³/ha, và rừng chưa có trữ lượng là dưới 10 m³/ha. Thông tư này nêu rõ hệ thống phân loại rừng phục vụ điều tra, kiểm kê, thống kê rừng, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quản lý tài nguyên rừng và xây dựng các chương trình, dự án lâm nghiệp. Nói cách khác, đây là một bộ công cụ quản lý tài nguyên rừng, không phải là bộ thước đo đầy đủ về giá trị sinh thái của rừng.Đến Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng, việc phân chia rừng tự nhiên theo trữ lượng vẫn tiếp tục được sử dụng: rừng giàu có trữ lượng cây đứng lớn hơn 200 m³/ha, rừng trung bình từ trên 100 đến 200 m³/ha, rừng nghèo từ trên 50 đến 100 m³/ha, rừng nghèo kiệt từ 10 đến 50 m³/ha, và rừng chưa có trữ lượng dưới 10 m³/ha. Các phụ lục sửa đổi sau đó cũng tiếp tục sử dụng cách phân chia trạng thái rừng gắn với trữ lượng M tính bằng m³.Những con số này không vô nghĩa. Trữ lượng gỗ là chỉ tiêu cần thiết trong điều tra rừng. Nó cho biết lượng gỗ đứng trong một lâm phần, giúp tính toán sinh khối, các-bon, sản lượng, khả năng phục hồi, thiệt hại khi rừng bị chặt phá, và nhiều nội dung quản lý khác. Một ngành lâm nghiệp không thể vận hành nếu không biết rừng còn bao nhiêu gỗ.Nhưng rừng không chỉ là gỗ.Một khu rừng có trữ lượng cao có thể có nhiều cây lớn, nhiều sinh khối, nhiều các-bon. Nhưng điều đó chưa tự động nói rằng khu rừng ấy có đa dạng sinh học cao, có đủ tầng tán, có nhiều loài bản địa, có động vật hoang dã, có khả năng tự tái sinh hay có tính kết nối sinh cảnh tốt. Ngược lại, một khu rừng có trữ lượng thấp không nhất thiết là khu rừng ít giá trị. Nó có thể là rừng phục hồi sau nương rẫy, rừng thứ sinh sau khai thác, rừng trên núi đá vôi, rừng ven suối, rừng cộng đồng, hoặc một mảng sinh cảnh nhỏ nhưng quan trọng đối với chim, thú nhỏ, côn trùng, cây tái sinh và nguồn hạt giống.Cách gọi “rừng giàu, rừng nghèo” vì vậy rất dễ tạo ra một hiểu lầm. Nó khiến người ta nghĩ rằng sự giàu nghèo của rừng nằm chủ yếu ở mét khối gỗ. Trong tư duy khai thác gỗ trước đây, điều này có thể hợp lý: rừng giàu là rừng có nhiều gỗ để khai thác; rừng nghèo là rừng ít gỗ, kém hấp dẫn về sản lượng. Nhưng trong bảo tồn thiên nhiên, “giàu” phải được hiểu rộng hơn nhiều. Một khu rừng giàu sự sống không chỉ có cây gỗ lớn, mà còn có cây non, cây chết, dây leo, cây bụi, thảm mục, nấm, côn trùng, chim, thú, vi sinh vật, đất sống và nước sạch.Trong sinh thái học rừng, cấu trúc rừng có vai trò rất lớn.Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh rằng mất rừng ở Việt Nam không chỉ làm giảm số lượng loài, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng rừng xét theo cấu trúc, trữ lượng gỗ và đa dạng sinh học. Cấu trúc rừng là yếu tố quan trọng đối với sinh cảnh của động thực vật, vi khí hậu, các ổ sinh thái và chức năng hệ sinh thái.Điều này có nghĩa là trữ lượng chỉ là một lát cắt. Nó đo được phần “thân gỗ” của rừng, nhưng chưa đo được toàn bộ cơ thể sống của rừng. Nó không nói rõ cây trong rừng thuộc bao nhiêu loài, có bao nhiêu loài bản địa, cấu trúc tuổi ra sao, có tái sinh tự nhiên không, có cây gỗ mục cho côn trùng và nấm không, có tán cao tán thấp đan xen không, hay khu rừng có còn là nơi sống an toàn cho động vật hoang dã không.Lấy ví dụ dễ hình dung: một lâm phần trồng keo lâu năm có thể đạt trữ lượng gỗ đáng kể. Nhưng nếu so với một khu rừng tự nhiên thứ sinh đang phục hồi, có nhiều loài cây bản địa, nhiều tầng tán, nhiều cây tái sinh, nhiều dây leo, nhiều chim và côn trùng, thì không thể chỉ lấy m³/ha để kết luận khu nào giàu hơn về sinh thái. Một bên có thể giàu gỗ hơn. Bên kia có thể giàu sự sống hơn.Chính các tài liệu đánh giá ngành lâm nghiệp Việt Nam cũng đã bắt đầu chỉ ra giới hạn này. Một báo cáo đóng góp cho Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021–2030 nhận xét rằng trước đây chất lượng rừng chủ yếu được định nghĩa bằng mức độ trữ lượng và đo bằng mét khối qua các nhóm “nghèo”, “trung bình”, “giàu”. Báo cáo khuyến nghị rằng trong tương lai, một tiêu chí quan trọng không kém để xác định chất lượng và mức độ cải thiện của rừng phải bao gồm đa dạng ở cấp di truyền, loài và sinh cảnh, kèm theo các chỉ số theo dõi tương ứng.Đây là chuyển dịch rất quan trọng. Từ chỗ hỏi “rừng này có bao nhiêu gỗ?”, cách tiếp cận sinh thái sẽ hỏi thêm: rừng này có bao nhiêu loài? Có còn loài bản địa không? Có còn loài nguy cấp không? Có tự phục hồi được không? Có giữ nước không? Có chống xói mòn không? Có tạo sinh cảnh không? Có kết nối với những mảng rừng khác không? Có còn quan hệ bền vững với cộng đồng địa phương không?Nếu chỉ nhìn trữ lượng, chúng ta cũng dễ bỏ qua tình trạng suy giảm chất lượng rừng tự nhiên. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho biết chất lượng rừng tự nhiên của Việt Nam tiếp tục có xu hướng suy giảm; khoảng hai phần ba diện tích rừng tự nhiên được coi là rừng nghèo hoặc đang phục hồi, trong khi rừng giàu và có tán khép kín chỉ chiếm khoảng 5% tổng diện tích.Con số này không chỉ nói rằng Việt Nam còn ít rừng giàu theo nghĩa trữ lượng. Nó còn gợi ra một vấn đề lớn hơn: rất nhiều diện tích rừng tự nhiên hiện nay là rừng đã bị tác động, rừng thứ sinh, rừng phục hồi, rừng bị chia cắt hoặc suy giảm chức năng. Nếu chỉ xếp chúng vào các nhóm “nghèo” hay “nghèo kiệt”, chúng ta có thể vô tình xem nhẹ tiềm năng phục hồi và giá trị bảo tồn còn lại của chúng.Trong bảo tồn thiên nhiên, một khu rừng “nghèo gỗ” vẫn có thể rất quý. Nó có thể là vùng đệm giúp bảo vệ lõi rừng giàu hơn. Nó có thể là hành lang để động vật di chuyển. Nó có thể là nơi cây bản địa đang tái sinh. Nó có thể bảo vệ nguồn nước cho bản làng phía dưới. Nó có thể là nơi cộng đồng địa phương thu hái lâm sản ngoài gỗ theo cách bền vững. Nó cũng có thể là phần còn lại cuối cùng của một kiểu sinh cảnh từng phổ biến nhưng nay đã bị thu hẹp.Vì vậy, vấn đề không phải là bỏ khái niệm trữ lượng rừng. Vấn đề là đặt nó đúng vị trí. Trữ lượng rất quan trọng cho điều tra, kiểm kê, tính toán sinh khối, các-bon và quản lý tài nguyên. Nhưng nó không nên là chiếc thước chính để phán xét giá trị của một khu rừng trong bảo tồn thiên nhiên.Một khu rừng không chỉ “giàu” khi có nhiều mét khối gỗ. Nó giàu khi còn nhiều loài sống cùng nhau, còn cấu trúc tự nhiên, còn khả năng tái sinh, còn đất và nước khỏe, còn chức năng sinh thái, còn kết nối với cảnh quan xung quanh và còn là nơi cư trú an toàn cho các loài hoang dã.Nếu chỉ đo rừng bằng gỗ, chúng ta sẽ chỉ nhìn thấy thân cây. Còn điều làm nên một khu rừng thật sự nằm ở toàn bộ sự sống vận hành bên trong nó.#ThienNhienNet #RungVietNam #SinhThaiRung #BaoTonThienNhien #DaDangSinhHoc #HieuDungVeRung ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

3 ngày trước

ThienNhien.Net
Đừng nhầm tán cây với rừngTrong pháp luật Việt Nam, rừng được định nghĩa là một hệ sinh thái, gồm thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Nghĩa là, về bản chất, rừng không chỉ là cây. Rừng là một cộng đồng sống.Nhưng khi đi vào tiêu chí xác định trên thực tế, một diện tích được coi là rừng thường được nhận diện qua một số ngưỡng kỹ thuật: diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên, độ tàn che từ 0,1 trở lên và chiều cao cây rừng theo từng điều kiện lập địa. Đây là các tiêu chí quan trọng cho kiểm kê, lập bản đồ, giao rừng, cho thuê rừng, theo dõi diễn biến rừng và xử lý vi phạm. Không có những ngưỡng này, công tác quản lý rừng sẽ rất khó thống nhất giữa các địa phương.Vấn đề bắt đầu khi những tiêu chí dùng để nhận diện rừng lại được hiểu như thước đo đầy đủ về sức khỏe của rừng.Độ tàn che 0,1 có thể hiểu nôm na là tán cây che phủ khoảng một phần mười diện tích khi nhìn từ trên xuống. Nhưng từ trên cao nhìn xuống, tán cây chỉ cho ta thấy phần mái của rừng. Nó chưa nói bên dưới có bao nhiêu loài cây bản địa, có cây tái sinh hay không, có chim thú hay không, đất rừng còn giàu mùn hay đã chai cứng, thảm mục còn dày hay đã biến mất, suối còn nước hay đã cạn khô theo mùa.Hai khu rừng có thể cùng đạt tiêu chí về tán che, nhưng bên trong là hai thế giới rất khác nhau. Một bên có thể là rừng tự nhiên thứ sinh đang phục hồi, với nhiều loài cây, nhiều tầng tán, cây non, cây già, dây leo, cây bụi, thảm lá mục, nấm, côn trùng và chim thú. Bên kia có thể là rừng trồng đơn loài, cây cùng tuổi, cùng chiều cao, ít tầng cấu trúc, chu kỳ khai thác ngắn và nghèo sinh cảnh cho động vật hoang dã.Trên bản đồ, cả hai đều có thể hiện màu xanh. Nhưng với thiên nhiên, chúng không giống nhau.Diện tích liền vùng 0,3 ha cũng là một tiêu chí cần thiết để phân biệt rừng với cây phân tán hoặc các mảng cây nhỏ. Tuy nhiên, giá trị sinh thái không phải lúc nào cũng bắt đầu từ một con số tròn trịa trong văn bản quản lý. Một khoảnh rừng nhỏ ven suối, một đám cây bản địa còn sót lại giữa vùng nông nghiệp, một khu rừng thiêng của cộng đồng, hay một mảng cây trên núi đá vôi có thể không lớn, nhưng vẫn có thể là nơi trú ẩn, nguồn hạt giống, điểm dừng chân của chim, hành lang di chuyển của thú nhỏ hoặc ốc đảo cho côn trùng và sinh vật đất.Thiên nhiên không đọc bản đồ địa chính trước khi vận hành. Với một con chim, điều quan trọng không chỉ là khoảnh rừng ấy rộng bao nhiêu, mà là có thức ăn, cây làm tổ, khoảng cách đến mảng rừng kế tiếp và mức độ an toàn trước săn bắt. Với một loài thú nhỏ, điều quan trọng không chỉ là độ tàn che, mà là có lớp cây bụi, thảm lá mục, hang hốc, nguồn nước và đường di chuyển. Với một khu rừng đầu nguồn, điều quan trọng không chỉ là có tán cây, mà là đất rừng có còn thấm nước, giữ nước và giảm xói mòn hay không.Ngay cả chiều cao cây rừng cũng chỉ phản ánh một lát cắt rất hẹp. Rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng khộp, rừng trên núi đá vôi, rừng thường xanh trên núi đất hay rừng trên đất cát ven biển có cấu trúc rất khác nhau. Một khu rừng thấp trên lập địa đặc biệt vẫn có thể rất quan trọng cho bảo tồn, phòng hộ, sinh kế và thích ứng khí hậu.Rừng vì thế không thể được hiểu như một lớp tán phủ lên mặt đất. Tán rừng là một phần của không gian sống ba chiều, gồm nhiều tầng, nhiều loài, nhiều kích thước cây, nhiều giai đoạn phát triển và nhiều điều kiện ánh sáng, độ ẩm, đất, nước, vi khí hậu khác nhau. Trong sinh thái học rừng, cấu trúc ấy quyết định rất lớn đến khả năng trú ngụ của các loài, khả năng tái sinh, chu trình dinh dưỡng và sức chống chịu của hệ sinh thái.Kết quả điều tra bẫy ảnh quy mô lớn do WWF Việt Nam công bố năm 2023 là lời nhắc nhở cho chúng ta. Dự án đã đặt 1.176 điểm bẫy ảnh tại 21 khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ ở 8 tỉnh trong giai đoạn 2019–2023, thu được hơn 120.000 phát hiện độc lập động vật. Nhưng nhiều loài thú lớn và quan trọng như hổ, báo gấm, sói lửa và sao la không được ghi nhận. Điều này cho thấy một khu vực vẫn có thể là rừng trên bản đồ, vẫn có tán cây, nhưng bên trong đã vắng dần những loài từng làm nên sự sống của rừng.Các tiêu chí kỹ thuật như độ tàn che, diện tích liền vùng và chiều cao cây vẫn rất cần cho quản lý. Nhưng chúng chỉ trả lời được câu hỏi: khu vực này có được ghi nhận là rừng theo tiêu chí kiểm kê hay không. Chúng chưa đủ để trả lời những câu hỏi quan trọng hơn: khu rừng ấy còn đa dạng sinh học không, còn chức năng sinh thái không, còn khả năng tự phục hồi không, còn kết nối với các sinh cảnh xung quanh không, và còn đủ an toàn cho các loài hoang dã sinh sống không.Một khu rừng khỏe cần nhiều hơn tán cây. Nó cần cây bản địa, nhiều tầng tán, cây già, cây non, cây chết, thảm mục, nấm, côn trùng, chim thú, đất sống, nước sạch và các mối liên kết với cảnh quan xung quanh. Nó cũng cần những cộng đồng địa phương có động lực và điều kiện để bảo vệ rừng lâu dài.Vì vậy, chiếc thước đo rừng không thể chỉ dừng ở diện tích và tán che. Những con số ấy giúp chúng ta quản lý rừng trên giấy tờ và bản đồ. Nhưng để bảo tồn thiên nhiên, cần nhìn sâu hơn vào chất lượng sinh cảnh, cấu trúc rừng, thành phần loài, tính kết nối, khả năng phục hồi và sự hiện diện của các loài hoang dã.Rừng không chỉ cần đủ tán. Rừng cần đủ sự sống.#ThienNhienNet #rungvietnam #sinhthairung #BaoTonThienNhien #dadangsinhhoc #dadangsinhhoc ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

4 ngày trước

ThienNhien.Net
Rừng không chỉ là phần xanh trên bản đồ!Có lẽ khi nghe tin tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam vẫn duy trì trên 42%, nhiều người có thể thở phào: “À, rừng vẫn còn nhiều đấy chứ!”. Nhưng nếu chỉ nhìn vào một con số phần trăm, chúng ta rất dễ bỏ qua câu hỏi quan trọng hơn: phần xanh đó là rừng gì, còn gì bên trong, và có thật sự phần diện tích đó có nuôi dưỡng được sự sống hay không?Theo công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025, Việt Nam có hơn 14,97 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên hơn 10,07 triệu ha, rừng trồng hơn 4,89 triệu ha; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc là 42,03%. Đây là chỉ tiêu quan trọng cho quản lý nhà nước, quy hoạch và theo dõi diễn biến rừng. Nhưng nó không nên được hiểu đơn giản là thước đo sức khỏe của rừng.Một phép tính nhỏ cho thấy điều đáng suy nghĩ. Năm 2024, cả nước có hơn 14,87 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên hơn 10,13 triệu ha và rừng trồng hơn 4,74 triệu ha. Sang năm 2025, tổng diện tích rừng tăng khoảng 97.000 ha, nhưng rừng tự nhiên lại giảm hơn 54.000 ha, trong khi rừng trồng tăng hơn 151.000 ha. Nhìn tổng thể, tỷ lệ che phủ vẫn ổn định; nhưng bên trong con số ấy là sự dịch chuyển giữa rừng tự nhiên và rừng trồng.Vấn đề nằm ở chỗ một héc-ta rừng tự nhiên nhiều tầng tán, có cây gỗ lớn, cây tái sinh, dây leo, thảm mục, nấm, côn trùng, chim, thú nhỏ và dòng suối mát dưới tán rừng không giống một héc-ta rừng trồng đơn loài. Trên bản đồ, cả hai đều có thể hiện màu xanh. Nhưng với đa dạng sinh học, đất, nước và khí hậu địa phương, chúng không tương đương.Độ che phủ chủ yếu nói với chúng ta rằng có tán cây che phủ trên một diện tích nhất định. Nó không tự động nói rằng khu rừng đó có nhiều loài bản địa hay không, có còn động vật hoang dã hay không, đất rừng còn giàu mùn hay đã thoái hóa, dòng suối dưới chân rừng có còn nước quanh năm, hay khu rừng ấy có còn kết nối với các sinh cảnh xung quanh.Nói cách khác, nếu chỉ dùng độ che phủ để nói về rừng, chúng ta giống như đánh giá sức khỏe một con người chỉ bằng cân nặng. Cân nặng có thể cần thiết, nhưng không đủ. Một người có cân nặng đúng chuẩn vẫn có thể thiếu máu, suy nhược, mất ngủ hoặc mắc bệnh mãn tính. Rừng cũng vậy. Một khu vực có màu xanh trên ảnh vệ tinh chưa chắc là một hệ sinh thái rừng khỏe mạnh.Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về rừng Việt Nam từng nêu rằng khoảng hai phần ba diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam ở tình trạng nghèo hoặc đang phục hồi, trong khi rừng giàu, có tán khép kín chỉ chiếm khoảng 5%. Đây là lớp thông tin rất dễ bị che khuất nếu cuộc thảo luận chỉ dừng ở phần độ che phủ rừng.Các nghiên cứu về diễn ngôn chính sách lâm nghiệp ở Việt Nam cũng chỉ ra rằng câu chuyện về độ che phủ rừng có xu hướng làm mờ đi hệ sinh thái nằm bên dưới tán cây. Khi chính sách, truyền thông và báo cáo quá tập trung vào diện tích xanh, những yếu tố khó đếm hơn như chất lượng sinh cảnh, cấu trúc rừng, thành phần loài, chức năng sinh thái và tính toàn vẹn của rừng thường bị đẩy xuống hàng thứ yếu.Nghiên cứu ở Thừa Thiên Huế cũng cho thấy quá trình chuyển dịch rừng sau giai đoạn mất rừng không nhất thiết đồng nghĩa với sự trở lại của rừng tự nhiên đúng nghĩa. Trong nhiều trường hợp, sự gia tăng che phủ cây gắn nhiều với mở rộng rừng trồng keo, trong khi các hệ sinh thái rừng tự nhiên giàu loài đã bị suy giảm trước đó không dễ phục hồi chỉ bằng việc có thêm cây trên đất.Vì vậy, vấn đề không phải là bỏ chỉ tiêu độ che phủ rừng. Chỉ tiêu này vẫn cần thiết. Vấn đề là không nên để nó trở thành chiếc thước duy nhất để đo đếm rừng.Khi nghe nói một địa phương có tỷ lệ che phủ rừng cao, chúng ta nên hỏi thêm: đó là rừng tự nhiên hay rừng trồng? Rừng tự nhiên còn ở trạng thái nào? Có bao nhiêu diện tích là rừng giàu, rừng trung bình, rừng phục hồi? Có loài nguy cấp nào còn sinh sống không? Rừng có bị chia cắt bởi đường, thủy điện, nương rẫy, khu dân cư hay không? Người dân địa phương có còn hưởng lợi từ rừng theo cách giúp họ bảo vệ rừng lâu dài không?Rừng không chỉ là màu xanh. Rừng là một cộng đồng sự sống. Trong cộng đồng ấy có cây lớn, cây nhỏ, thú, chim, côn trùng, nấm, vi sinh vật, đất, nước, hạt giống, ký ức sinh thái và cả sinh kế của con người. Nếu chỉ nhìn rừng như phần xanh trên bản đồ, chúng ta có thể tự an ủi rằng rừng vẫn còn nhiều, trong khi những gì làm nên linh hồn của rừng đang mất dần.Vì thế, đã đến lúc khi nói về rừng ở Việt Nam, chúng ta cần đi xa hơn chỉ là độ che phủ bao nhiêu phần trăm. Chúng ta cần quan tâm đến các khía cạnh quan trọng khác: rừng còn khỏe không, còn đa dạng không, còn tự phục hồi được không, và còn đủ sức giữ sự sống cho cả thiên nhiên lẫn con người hay không?Ảnh: Một khu vực từng là rừng nguyên sinh bị lấn chiếm làm nương rẫy. #ThienNhienNet #RungVietNam #SinhThaiRung #BaoTonThienNhien #DaDangSinhHoc #ChatLuongRung ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

ThienNhien.Net

5 ngày trước

ThienNhien.Net
Kỳ Co (Quy Nhơn, Gia Lai) thường được nhiều du khách gọi vui là “Maldives của Việt Nam” nhờ làn nước biển xanh trong, những dải cát trắng mịn và các ghềnh đá ôm lấy bãi biển tạo nên khung cảnh vừa hoang sơ vừa rực rỡ. Vào những ngày nắng đẹp, nước biển ở đây chuyển nhiều sắc độ từ xanh ngọc, xanh lam đến trong veo như nhìn thấy tận đáy, khiến nhiều người có cảm giác như đang lạc vào một hòn đảo nhiệt đới đâu đó giữa Ấn Độ Dương.Du khách có thể lội qua những hồ nước tự nhiên giữa các bãi đá, ngắm san hô gần bờ hoặc đơn giản là ngồi nghe sóng vỗ dưới những vách núi hướng ra biển. Kết hợp cùng Eo Gió gần đó với những cung đường ven biển uốn lượn và gió thổi quanh năm, khu vực này đã trở thành một trong những điểm đến nổi bật nhất của vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Có lẽ vì thế mà nhiều người sau khi đến Kỳ Co đều có chung cảm giác không cần đi quá xa, Việt Nam vẫn có những góc biển đẹp khiến người ta ngỡ như đang ở một thiên đường nhiệt đới nào đó. #VietNamTuoiDep #DuLich #BaiBien #GiaLai #BinhDinh #KyCo ... Xem thêmThu nhỏ

Photo

Xem trên Facebook
· Chia sẻ

Share on Facebook Share on Twitter Share on Linked In Share by Email

Trên YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=hXH3ulZGzSo

Chủ đề nổi bật

BBĐVHD biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu BĐKH bảo vệ môi trường Bảo vệ rừng bệnh truyền nhiễm cháy rừng corona Covid-19 cơ hội việc làm Dịch bệnh Hà Nội Hạn hán Hổ Khai thác khoáng sản khoáng sản khu công nghiệp lũ lụt Mê Kông Mưa bão Mưa lũ Mỹ Nghệ An ngà voi phá rừng plastic Quảng Nam rác thải nhựa SARS-CoV-2 sạt lở thiên tai Thủy điện Trung Quốc Trung Quốc vaccine xả thải Ô nhiễm không khí Ô nhiễm môi trường ô nhiễm ĐBSCL ĐVHD đa dạng sinh học đại dịch động vật hoang dã
Giấy phép số 243/GP-TTĐT do Cục PT, TH và TTĐT cấp ngày 11/10/2024
Trụ sở: NV31, Khu đô thị Trung Văn, p. Trung Văn, q. Nam Từ Liêm, Hà Nội
ĐT: 024 3556-4001 Fax: 024 3556-8941 Email: bbt@nature.org.vn
Cơ quan chủ quản: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Chịu trách nhiệm xuất bản: Trịnh Lê Nguyên Phụ trách biên tập: Phan Bích Hường
Thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn.
Facebook Linkedin Mail Spotify Website
© Trung tâm Con người và Thiên nhiên - 2026