Quản lý, khai thác hiệu quả ba loại rừng – Bài cuối

Bài cuối: Kịp thời tháo gỡ khó khăn

Mục tiêu của công tác rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng nhằm khắc phục những bất cập trước đây; nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, sau khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch, tại một số địa phương đã xuất hiện những bất cập không tự giải quyết được, cần sự vào cuộc của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cán bộ quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ Thái Nguyên tuần tra kiểm tra rừng tại Khu dự trữ thiên nhiên Thần Sa-Phượng Hoàng. Ảnh: Báo Thái Nguyên

Quản lý, khai thác hiệu quả ba loại rừng: Bài 1: Nhiều vướng mắc chưa được giải quyết

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, để công tác quản lý, sử dụng và phát triển rừng có hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề nghị các địa phương có rừng rà soát bản đồ quy hoạch ba loại rừng và thực địa; đối chiếu loại đất, rừng trước khi điều chỉnh quy hoạch, đồng thời hướng dẫn các tổ chức, cá nhân được giao đất, giao rừng… đăng ký biến động đất đai đối với khu vực có thay đổi quy hoạch ba loại rừng theo quy định. Mặt khác, các địa phương cần triển khai các hoạt động bảo vệ rừng, trồng rừng, khai thác rừng, kinh doanh du lịch sinh thái và hoạt động khác liên quan đến rừng, đất lâm nghiệp đối với các loại rừng đã quy hoạch phải thực hiện theo quy định của Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay, việc triển khai, thực hiện các cơ chế, chính sách tại các địa phương còn chậm, chưa có tính đột phá; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng tại nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức; kiểm soát chuyển mục đích sử dụng rừng một số nơi chưa chặt chẽ, chưa tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Rà soát để quy hoạch phù hợp

Bắc Kạn là tỉnh miền núi có diện tích rừng và đất lâm nghiệp 428.768 ha, chiếm hơn 88% diện tích tự nhiên. Theo quy hoạch, tỉnh có hơn 28.000 ha rừng đặc dụng, 92.000 ha rừng phòng hộ và hơn 302.000 ha rừng sản xuất. Đến nay, công tác rà soát, quy hoạch rừng tại một số địa phương trong tỉnh vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn Đỗ Thị Minh Hoa cho rằng, để ngành lâm nghiệp ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, tương xứng tiềm năng của rừng và đất rừng đặc biệt đối với những tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn, cần khẩn trương hoàn thành việc quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia. Lập phương án kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chi tiết, cụ thể đến cơ sở theo chức năng của từng loại rừng. Rà soát thực hiện việc giao đất gắn với giao rừng để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài để mọi người dân sống gần rừng có đất sản xuất, bảo đảm cuộc sống.

Tại tỉnh Thái Nguyên, hiện trạng và cơ sở dữ liệu rừng cũng như tình trạng sử dụng đất lâm nghiệp trên thực tế tại một số địa phương trong tỉnh đã có những sai số so với thực địa. Tỉnh đã xác định cụ thể về ranh giới, diện tích ba loại rừng đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên, sau khi rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng, nhiều địa phương gặp khó khăn, bất cập trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp ổn định của cá nhân, hộ gia đình nằm đan xen trong quy hoạch ba loại rừng; nhiều diện tích rừng, đất lâm nghiệp quy hoạch theo chức năng ba loại rừng thực tế cho thấy không phù hợp tiêu chí quy định mới và điều kiện thực tế của nhiều địa phương hiện nay.

Giải thích về những bất cập trong quy hoạch ba loại rừng tại một số địa phương, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Quốc Trị cho biết, trước năm 2019, việc quy hoạch thực hiện theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng, theo đó, trách nhiệm lập quy hoạch này thuộc trách nhiệm của UBND các cấp. Qua quá trình triển khai thực hiện quy hoạch cho thấy, còn một số hạn chế, bất cập. Đó là, địa phương kế thừa cơ sở dữ liệu, bản đồ quy hoạch đã cũ hoặc ứng dụng công nghệ viễn thám trong quy hoạch nhưng quá trình kiểm tra, đánh giá ngoài thực tế chưa bảo đảm dẫn đến sai số giữa hồ sơ và thực địa. Một số nơi thiếu sự đồng bộ, thống nhất giữa quy hoạch ba loại rừng và quy hoạch sử dụng đất ở địa phương do chưa có sự phối hợp, thống nhất giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Tài nguyên và Môi trường về tiêu chí phân loại, phương pháp thống kê, áp dụng…, dẫn đến bất cập như có nơi, có diện tích rừng thuộc quy hoạch ba loại rừng của ngành nông nghiệp nhưng không thuộc quy hoạch đất sử dụng cho mục đích lâm nghiệp của ngành tài nguyên. Bên cạnh đó, quy trình thực hiện công bố quy hoạch đến cấp xã, thôn, bản ở địa phương chưa bảo đảm do áp lực về tiến độ, hạn chế về kinh phí triển khai. Mặt khác, có sự gia tăng áp lực lên diện tích quy hoạch lâm nghiệp do gia tăng dân số. Việc người dân thiếu đất sản xuất tại chính nơi cư trú đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh lại ranh giới quy hoạch rừng để bố trí đất sản xuất cho nhân dân…

Tập trung tháo gỡ vướng mắc

Ngay sau khi có quyết định quy hoạch ba loại rừng, tỉnh Điện Biên đã yêu cầu các địa phương công bố quy hoạch rừng trên địa bàn đến từng xã, thôn, bản, để người dân hiểu rõ diện tích rừng thuộc quy hoạch tại địa phương; từ đó, chủ động có hình thức sản xuất phù hợp, không vi phạm quy định bảo vệ, phát triển rừng. Cùng với đó, tỉnh đã tiếp thu ý kiến phản ánh từ cơ sở về bất cập, vướng mắc trong quy hoạch ba loại rừng để đề xuất điều chỉnh phù hợp. Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên Hà Lương Hồng cho biết: Ngoài nỗ lực của lực lượng kiểm lâm, rất cần sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ của chính quyền các cấp từ huyện đến xã, thôn, bản trong công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia công bố quy hoạch rừng tại địa phương, từ đó để người dân biết thay đổi, ranh giới diện tích rừng theo quy hoạch sau khi điều chỉnh.

Qua tìm hiểu được biết, đến nay tại hầu hết các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, việc thực hiện rà soát, quy hoạch ba loại rừng còn chậm, do trong quá trình triển khai, việc rà soát, quy hoạch rừng gặp phải một số khó khăn như các dự án phát triển kinh tế-xã hội đang đầu tư và phát triển nhanh trong thời gian qua làm cho các quy hoạch không còn phù hợp; nhiều khu vực có rừng nhưng trên thực địa lại là các khu dân cư sinh sống; nhiều nơi đất nghèo kiệt, người dân đã trồng cây sản xuất từ nhiều năm nay. Do vậy, có ý kiến muốn chuyển một số diện tích quy hoạch rừng đặc dụng, phòng hộ của ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ nằm gần khu dân cư, đất canh tác của người dân sang quy hoạch đất rừng sản xuất và bàn giao lại cho địa phương quản lý, sử dụng. Bên cạnh đó, tại các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có một số diện tích người dân đã canh tác từ trước khi thành lập ban quản lý rừng thì cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch và ranh giới cho phù hợp thực tiễn để quản lý ổn định, tránh xung đột, tranh chấp kéo dài.

Để tháo gỡ khó khăn cho các địa phương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã chỉ đạo các đơn vị nghiên cứu, xây dựng chính sách, cơ chế đặc thù đối với từng loại rừng để phát huy giá trị, các chức năng tổng hợp của từng loại rừng. Bên cạnh đó, tập trung xây dựng hoàn chỉnh cơ chế, chính sách đầu tư, thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp để khai thác tiềm năng, thế mạnh về các giá trị của hệ sinh thái rừng ở từng địa phương. Tuy nhiên, đến thời điểm này, nhiều địa phương có rừng đang gặp khó khăn, mong muốn các cơ quan liên quan có giải pháp tháo gỡ những bất cập về cơ chế, chính sách để công tác rà soát, quy hoạch ba loại rừng sớm hoàn thành, góp phần phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng-an ninh, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển ổn định, bền vững.

Theo Quyết định số 536/QĐ-TTg ngày 17/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND các tỉnh xây dựng Quy hoạch bảo đảm thống nhất và đồng bộ với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, hài hòa sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong điều kiện bảo vệ diện tích rừng hiện có, đặc biệt là rừng tự nhiên, duy trì độ che phủ rừng ở mức 42% đến 43%.