Những vấn đề về luật hóa “rừng của làng bản”

Đăng ngày

Khi sửa đổi, bổ sung pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, cần xem xét thấu đáo việc công nhận cộng đồng dân cư ở làng bản là chủ thật sự của các khu “rừng của làng bản”. Đây là lực lượng nòng cốt quản lý, sử dụng, bảo vệ, phát triển rừng, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước, nguyện vọng của cộng đồng dân cư.

Đồng bào các dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số định cư ở vùng rừng núi đều có các khu rừng quản lý chung của cộng đồng dân cư. Các khu rừng này có từ khi thành lập làng bản (hay thôn, buôn,…) cho nên người dân thường gọi là “rừng của làng bản”. Theo các nghiên cứu, tổng kết từ thực tiễn về “rừng của làng bản”, Trung tâm Tư vấn quản lý bền vững tài nguyên và phát triển văn hóa cộng đồng Đông – Nam Á – Việt Nam (CIRUM) khẳng định: Rừng và hình thức quản lý rừng theo cộng đồng có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của đồng bào các dân tộc và chiến lược bảo vệ, phát triển của quốc gia.

Các khu “rừng của làng bản” là: Khu rừng văn hóa tín ngưỡng, tâm linh; khu rừng bảo vệ nguồn nước, môi trường sống; khu rừng sử dụng lâm sản chung của làng bản. Điều này thể hiện quyền tự do tín ngưỡng, tâm linh của các dân tộc. Từng địa phương có tên gọi các loại rừng khác nhau, như khu rừng tín ngưỡng, tâm linh dân tộc Mông gọi là “rừng Nào lồng, rừng Thứ tỷ”; dân tộc Nùng gọi là “rừng Đổng hầu, Đổng chứ”; dân tộc Dao đỏ gọi là “rừng Chía”; dân tộc Thái gọi là “Đông căm, Pá heo”; người Ka Dong gọi là “rừng Neng ngọc”; dân tộc Bru – Vân Kiều gọi là “rừng La pay”…

Từ xưa đến nay, đồng bào dân tộc nói “rừng là Cha, đất là Mẹ” và “khi sống đất là của ta, rừng nuôi sống; khi chết ta là của đất, rừng chôn cất”. Họ quan niệm rằng, ở các khu đất rừng của làng bản là đất linh thiêng, đều có các thần linh cai quản và bảo vệ, che chở cho dân làng. Cũng là nơi hằng năm, các thế hệ của dân tộc tổ chức lễ cúng đất rừng, thần linh để cầu phúc lộc, tạ ơn; làm lễ ăn thề theo luật tục và quy ước của làng bản… Ở đâu mất loại đất rừng thiêng này, đồng bào dân tộc cảm thấy bị hẫng hụt tinh thần.

Từ nhiều đời nay, làng bản (nơi cộng đồng dân cư sinh sống) là chủ thật sự của các khu “rừng của làng bản”, có vai trò rất đặc biệt để quản lý, sử dụng, bảo vệ, phát triển rừng gắn liền với phong tục tập quán, văn hóa tín ngưỡng, bảo vệ môi trường sinh thái,…

Những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, những việc làm này của các làng bản của vùng dân tộc thiểu số đã được các chế độ xã hội tôn trọng, thừa nhận. Các làng bản của các dân tộc thiểu số là xã hội có tổ chức với thiết chế tổ chức quản lý xã hội và quản lý tài nguyên theo hình thức tự quản, đứng đầu là già làng hoặc trưởng làng do cộng đồng bầu hoặc thừa kế, được cả cộng đồng tôn trọng và tín nhiệm. Làng bản có phương thức quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả theo văn hóa tín ngưỡng, tâm linh, theo quy ước hay hương ước bất thành văn, còn gọi là luật tục. “Rừng của làng bản” có vai trò và tác dụng như vậy. Nhưng đến nay, việc giao rừng cho cộng đồng dân cư và dùng luật tục dân tộc để quản lý, sử dụng, bảo vệ, phát triển rừng ở các cấp, các ngành vẫn chưa nhất quán, với nhiều cách hiểu, cách làm khác nhau, chưa thuận lòng dân.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2015, trong 13 triệu ha rừng, số rừng đã giao cho gia đình chiếm 26%, cộng đồng dân cư khoảng 2%. Tỷ lệ này là quá thấp. Ở không ít nơi, người dân bức xúc vì thiếu đất sản xuất, thậm chí thiếu đất rừng để thực hành văn hóa tín ngưỡng, sinh kế gắn với rừng. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm lấn, tranh chấp đất giữa đồng bào dân tộc với các công ty, ban quản lý rừng, mà nếu không giải quyết tốt có thể gây ra nhiều hậu quả khó lường.

Lâu nay, chúng ta bàn nhiều và triển khai nhiều chương trình về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, phát huy thế mạnh rừng với số tiền đầu tư không nhỏ. Một số nơi đã đạt kết quả đáng mừng. Nhưng nhìn chung, rừng vẫn bị tàn phá nghiêm trọng. Vấn đề quan trọng trong xây dựng pháp luật, chính sách và tổ chức thực hiện là cần phát huy được bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc trong quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng. Phải coi trọng giao rừng cho cộng đồng dân cư, gắn kết có hiệu quả giữa luật pháp và luật tục… Đồng bào các dân tộc mong muốn Đảng và Nhà nước sớm điều chỉnh, phân bổ lại rừng, đất rừng có lý và có tình, phù hợp phong tục tập quán; cần được ưu tiên giao đất rừng và làm nghề rừng, để sống được bằng nghề rừng.

Lù Văn Que, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

Nguồn:

Nhân dân