ThienNhien.Net | Con người và Thiên nhiên

Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong giám sát – đánh giá quản trị rừng ở Việt Nam

“Quản trị rừng”, “Đánh giá quản trị rừng” hay “Giám sát quản trị rừng” là những khái niệm từng bước được du nhập và thử nghiệm tại Việt Nam, đặc biệt là trong tiến trình Việt Nam tham gia thực hiện các sáng kiến lâm nghiệp có tính quốc tế như REDD+ và FLEGT-VPA. Các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực lâm nghiệp đều đón nhận và trải nghiệm “quản trị rừng” với thái độ tích cực, một phần do tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ thực hiện, phần khác quan trọng hơn, như một cơ hội để học hỏi, thực hành, gắn kết và đóng góp vào các quá trình xây dựng, thực hiện chính sách lâm nghiệp quốc gia theo cách đổi mới hơn, hướng đến mô hình quản trị tốt. Những áp dụng ban đầu từ giám sát quản trị rừng đã và đang được các bên tham gia truyền tải thông qua hoạt động tham vấn, góp ý cho các dự thảo Luật Lâm nghiệp và nghị định, thông tư hướng dẫn dưới luật này.

Trong khi “quản trị nhà nước” hay “quản trị doanh nghiệp” là những khái niệm đã trở nên khá phổ biến, được truyền tải qua nhiều kênh thông tin thì “quản trị tài nguyên” hay “quản trị rừng” vẫn tương đối mới mẻ ở Việt Nam, thường bị đánh đồng cách hiểu và diễn giải như “quản lý rừng” hoặc được tiếp nhận với thái độ thận trọng vì những quan ngại về kết quả (đánh giá) quản trị rừng có thể bộc lộ những điểm yếu hoặc trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Đến nay, phần lớn các tổ chức xã hội hoặc dự án ở Việt Nam đã và đang tiếp cận, học hỏi cũng như áp dụng giám sát – đánh giá quản trị rừng theo hướng dẫn của FAO công bố năm 2011[1]. Ngoài ra, từ Chương trình về Rừng (PROFOR), năm 2012, Ngân hàng Thế giới giới thiệu hướng dẫn khác[2] tuy không được tham chiếu, sử dụng nhiều ở Việt Nam. Cả hai tài liệu này đều được phát triển từ các thảo luận quốc tế (năm 2010) về giám sát – quản trị rừng cho thực hiện FLEGT và REDD+. Bên cạnh đó, năm 2013, Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) cũng công bố một hướng dẫn đánh giá quản trị rừng khác[3] sau khi phối hợp với các tổ chức xã hội thử nghiệm ở một số quốc gia. Ở cấp độ dự án, nội dung quản trị rừng cũng đã được tích hợp trong các công cụ đánh giá về quản lý rừng bền vững, Chứng chỉ rừng (như FSC), METT – Đánh giá hiệu quả quản lý các khu bảo tồn (IUCN WCPA 2002) hay Danh lục Xanh: Tiêu chuẩn Toàn cầu cho các khu bảo tồn thế kỷ 21 (IUCN Green List, 2017).

Ảnh minh họa: PanNature

Một số sáng kiến thử nghiệm ở Việt Nam

Dựa trên các khung, nguyên tắc hướng dẫn, một số sáng kiến giám sát – đánh giá quản trị rừng đã được các dự án và tổ chức xã hội ở Việt Nam áp dụng hoặc thử nghiệm, các khung giám sát – đánh giá đầy đủ về quản trị rừng hoặc các khía cạnh có liên quan đến quản trị rừng từng bước được phát triển. Bảng dưới tóm tắt các sáng kiến đã và đang thực hiện:

Bằng trải nghiệm với các sáng kiến nói trên, các tổ chức xã hội ở Việt Nam đã có cơ hội thực hành giám sát – quản trị rừng ở nhiều cấp (chủ rừng, cảnh quan/lưu vực, cấp tỉnh và cấp quốc gia hoặc đối tượng chính sách cụ thể) với phạm vi nội dung quản trị rừng rà soát, phân tích khác nhau tùy thuộc vào lựa chọn khung giám sát. Trong khi có các sáng kiến giám sát – quản trị rừng do tự thân các tổ chức xã hội triển khai thực hiện (trường hợp 2, 3, 4, 5 và 6) thì một số sáng kiến khác là sự phối hợp hoặc đồng thực hiện giữa tổ chức xã hội và cơ quan nhà nước (trường hợp 1, 7 và 8). Ngoại trừ trường hợp 4, kết quả đánh giá được xác lập thông qua một hoạt động đơn lẻ là hội thảo tham vấn, còn tất cả các trường hợp khác đều phải thực hiện trong nhiều tháng, thậm chí từ 1-2 năm.

Một số quan sát và bài học đúc kết

Từ các sáng kiến thử nghiệm nêu trên, có thể rút ra một số quan sát và bài học như sau:

Tóm lại, với vai trò tham gia độc lập hay hợp tác, các sáng kiến giám sát – đánh giá quản trị rừng đều có thể xem là những cơ hội có tính đổi mới đối với các tổ chức xã hội ở Việt Nam trong việc thực hiện các chức năng giám sát, phản biện và vận động chính sách. Với cách tiếp cận khoa học, đa bên, thực chứng, giám sát – đánh giá quản trị rừng không chỉ giúp các tổ chức xã hội cải thiện năng lực, mà chuẩn bị sự sẵn sàng cho giám sát thực hiện các sáng kiến có tính chuẩn mực như VPA-FLEGT, REDD+ với các cơ hội cải thiện quản trị rừng đang trở nên rõ ràng hơn.

Tài liệu tham khảo:

[1] FAO. 2011. Framework for Assessing and Monitoring Forest Governance. The Program on Forests (PROFOR)
[2] Kishor, Nalin and Kenneth Rosenbaum. 2012. Assessing and Monitoring Forest Governance: A User’s Guide to a Diagnostic Tool. Washington DC: Program on Forests (PROFOR)
[3] David Crystal, Williams L., Lupberger, S., Daviet, F. 2013. Assessing Forest Governance: The Governance of Forests Initiative Indicator Framework. World Resource Institute.
[4] 03 trụ cột: (i) khung chính sách, luật pháp và thể chế; (ii) quá trình quy hoạch và ra quyết định; và (iii) thực thi và tuân thủ thực hiện; 06 nguyên tắc quản trị tốt: (i) công khai minh bạch; (ii) giải trình trách nhiệm; (iii) hiệu quả; (iv) hiệu lực; (v) công bằng; và (vi) sự tham gia
[5] 05 hoạt động REDD+ theo quy định quốc tế: (i) giảm phát thải từ mất rừng; (ii) giảm phát thải từ suy thoái rừng; (iii) bảo tồn trữ lượng carbon; (iv) tăng cường trữ lượng carbon; và (v) quản lý rừng bền vững; hoặc 03 nhóm hoạt động theo chính sách REDD+ Việt Nam: (i) nhóm hoạt động hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; (ii) nhóm hoạt động bảo tồn, tăng cường trữ lượng carbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng; và (iii) nhóm hoạt động hoàn thiện các yếu tố sẵn sàng thực hiện REDD+ đáp ứng yêu cầu quốc tế
[6] Khung VNTLAS quy định theo chuỗi hoạt hành trình: (i) khai thác, nhập khẩu gỗ; (ii) buôn bán, vận chuyển gỗ; (ii) chế biến gỗ/đồ gỗ; và (iv) xuất khẩu gỗ/đồ gỗ

Nguyễn Việt Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature)

Exit mobile version